lore

Chương 1623: Vai trò của Hiệp hội Bảo vệ Người bản địa

9,779 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Mỗi lần đọc lại tôi đều cảm thấy rất ngạc nhiên – hóa ra ngành công nghiệp thép vốn là ngành truyền thống hàng đầu của tỉnh Quảng Châu!” Sau khi tổng hợp thông tin kỹ lưỡng, Lưu Tiêng không khỏi thốt lên tiếng ngạc nhiên.

Thực ra điều này không phải là bí mật gì, nhưng Lưu Tiêng hiếm khi quan tâm đến các tài liệu lịch sử liên quan đến những khu vực không nằm trong phạm vi quản lý của mình. Vì vậy, khi tìm hiểu kỹ hơn, anh mới thực sự bất ngờ.

Theo kết quả tổng hợp, nhờ sự can thiệp lâu dài của Viện Nguyên lão vào nền kinh tế, tỉnh Quảng Châu hiện nay đã hình thành ba ngành công nghiệp chính là luyện thép, chế biến gỗ và sản xuất rượu với quy mô đáng kể trong lĩnh vực công nghiệp thứ hai. Thú vị là trong số ba ngành này, luyện thép vẫn được coi là ngành truyền thống hàng đầu.

Khi Lưu Tiêng tra cứu cuốn “Tổng hợp tài liệu lịch sử kinh tế và công thương Quảng Châu” tại thư viện lớn, anh mới biết rằng từ xưa, gang ở Quảng Đông đã rất nổi tiếng. Các thuật ngữ như “Nam Thiết” hay “Quảng Thiết” chính là để chỉ loại gang thô sản xuất tại các xưởng nhỏ ở đây. Ngành luyện kim và đúc ở Phật Sơn cũng có lịch sử lâu đời và danh tiếng.

Tại Triệu Khánh, có nguồn quặng sắt chất lượng cao; sau khi được khai thác, chúng được vận chuyển dọc theo sông Tây đến các xưởng nhỏ dọc theo tuyến đường, nơi các thợ rèn truyền thống luyện chúng thành thanh sắt, sau đó tập trung về thành phố Quảng Châu. Chính quyền triều đình thậm chí còn thiết lập các cơ quan chuyên trách quản lý ngành này tại Quảng Châu.

Vì loại gang thô ở đây được luyện bằng than củi, nên chúng không chứa nhiều tạp chất như gang thô được luyện bằng than đá ở miền Bắc, đặc biệt là không chứa lưu huỳnh, do đó chất lượng của chúng rất cao. Chính vì vậy, triều đình Minh thường ưu tiên sản xuất các khẩu pháo lớn tại Quảng Đông.

Ngoài ra, ngành công nghiệp lớn ở Lâm Cao càng làm tăng thêm lợi thế cho ngành công nghiệp truyền thống này – trước khi xây dựng các lò luyện sắt riêng, hệ thống công nghiệp của Viện Nguyên lão luôn sử dụng gang thô nhập khẩu từ Quảng Đông để tiếp tục luyện thành thép phục vụ nhu cầu sản xuất. Ngay cả hiện nay, khi Công ty Thép Mã Nghạo đã được thành lập, Viện Hoạch Định vẫn tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn gang thô chất lượng cao từ Quảng Đông để sử dụng trong sản xuất.

Ngành chế biến gỗ thì lại được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các xưởng đóng tàu ở Hồng Kông. Mô hình sản xuất tiêu chuẩn hóa không chỉ mang lại sự thuận lợi cho các xưởng đóng tàu ở Hồng Kông mà còn giúp nâng cao đáng kể năng suất sản xuất của các xưởng khác sau khi được cải tạo theo hướng công nghi

Việc này thật sự rất khó đối với những bộ phận công nghiệp đã quá tải vì các nhiệm vụ sản xuất. Vì vậy, Lưu Tiêng cho rằng tiềm năng của việc này không lớn lắm.

Thực ra, điều có ảnh hưởng lớn nhất lại là ngành sản xuất rượu được thúc đẩy bởi việc các loại rượu chưng cất như “Công chúa Đại Đường”, “Quốc sĩ vô song”, “Lan Quý nhân” được bán trong và ngoài nước. Do việc mua lại số lượng lớn rượu sản xuất địa phương mà hoàn toàn không quan tâm đến hương vị mà chỉ chú trọng đến hàm lượng cồn, nên các xưởng sản xuất rượu địa phương bắt đầu mọc lên như nấm sau mưa. Thậm chí, những gia đình nông dân có thừa lương thực – từ khi khoai lang được bán rộng rãi ở khu vực Quảng Châu, số lượng những gia đình này dường như tăng lên đáng kể – cũng bắt đầu tự sản xuất rượu để đem giấu dưới chăn, chờ đợi người thu mua đến để đổi lấy tiền.

Khi có nhiều người sản xuất rượu hơn, lương thực cũng trở nên khan hiếm hơn. Trong hai năm gần đây, có rất nhiều gia đình đã chuyển sang trồng lương thực, đặc biệt là khoai lang. Điều này có thể nói là đã thay đổi đáng kể cấu trúc nông nghiệp truyền thống ở khu vực Quảng Châu, vốn chủ yếu dựa vào trồng rau củ, chăn nuôi và các cây trồng dùng để sản xuất thuốc nhuộm thực vật như indigo. Đây quả thực là một tác động lớn, vượt qua cả ranh giới của các ngành công nghiệp!

“Đây chính là sức mạnh của công nghiệp hóa! Ngay cả khi chỉ là những tác động lan tỏa từ một số ngành công nghiệp, nó cũng có thể làm thay đổi cả nền kinh tế nông nghiệp nhỏ bé này!”

“Việt Nam và Ryukyu cũng có thể áp dụng ý tưởng này!” Lưu Tiêng tiếp tục suy nghĩ trong đầu.

“Ryukyu à…” Lưu Tiêng lấy ra một bản đồ khu vực Đông Á và dùng bút đo độ dài.

“Nếu tính theo đường thẳng, thì khoảng cách từ Jeju đến các cảng thương mại chính của Nhật Bản tương đối ngang với khoảng cách từ Ryukyu đến những cảng đó. Nhưng vấn đề là ngoại trừ chúng ta dám đi qua biển Đen, các thương nhân hàng hải khác đều không dám! Họ chắc chắn sẽ đi theo chuỗi đảo về phía bắc. Vì vậy, các đảo Ryukyu nên được sử dụng chủ yếu như các trung tâm phân phối hàng hóa.”

Lưu Tiêng đã suy nghĩ rất lâu giữa các quần đảo Sanshan và quần đảo Amami, cuối cùng cũng vẽ một vòng tròn đỏ xung quanh cảng Naha.

“Vẫn là bị ảnh hưởng sâu sắc bởi ‘Dai Koukai’,” Lưu Tiêng thở dài, “Sulphur… À, thôi, việc nghiền sulphur thành hạt mịn nhỏ không phải là điều mà những quần đảo nhỏ bé này có thể làm được. Thà đóng gói và vận chuyển nó đi.” Lưu Tiêng nhớ lại những bài viết trên diễn đ

“Việt Nam ạ, cảm giác như tôi rất có khả năng sẽ đến nơi này! Than và lương thực… Tình hình ở đây giống hệt những gì tôi đã làm ở Quỳnh Sơn mà! Chỉ là thay “Mỏ than Giáp Tử” bằng “Mỏ than Hồng Cơ” mà thôi. Cảm giác quen thuộc này thật là rõ ràng!” Lưu Tiêng không hề quan tâm nhiều đến Việt Nam; vì xét về mặt công nghiệp, nếu đi đến Việt Nam, ngoài việc tăng cường sức mạnh quân sự ra, mọi thứ khác chỉ là phiên bản mở rộng của Quỳnh Sơn mà thôi – và còn có thể thực hiện các biện pháp một cách triệt để hơn nữa! Dù sao thì người Việt cũng không phải là những người “cùng chữ viết, cùng dòng máu” như Lưu Tiêng suy nghĩ, nên hành động của họ hoàn toàn có thể mạnh mẽ hơn nhiều.

“Nhưng tôi nhất định phải tuyên bố rằng tôi sẽ không áp đặt chế độ tổng đốc ở Việt Nam!” Lưu Tiêng lại tự hỏi trong lòng: “Rất nhiều thành viên Viện Nguyên lão đang dựa vào bản đồ thời Hai Han để nói rằng hai khu vực Bắc Kỳ và Trung Kỳ ‘từ xưa đến nay’ luôn là lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc, thuộc về các quận Cửu Chân và Nhật Nam. Nếu áp đặt chế độ tổng đốc, vậy khi sau này chúng ta muốn chiếm lại những vùng đất trung tâm của Cửu Châu, liệu có cần thiết phải thành lập các văn phòng tổng đốc không? Điều này chắc chắn sẽ mang lại rất nhiều rắc rối cho chính chúng ta.” Lưu Tiêng thở dài.

“Khi ba người họ Lưu rời kinh đô, hệ thống các quan cai quản được bãi bỏ và thay bằng các quan cai quản cấp tỉnh, đó chính là khởi đầu của giai đoạn hỗn loạn thời Hán! Người khởi xướng điều này, liệu có no con không?” Bỗng nhiên, suy nghĩ của Lưu Tiêng lại quay về cuối thời Đông Hán, và anh lại bắt đầu cảm thán.

Nhìn vào bản đồ, nhớ lại lịch sử liên tục của Việt Nam – từ việc phục tùng, nổi loạn cho đến độc lập – người được mệnh danh là “người giỏi nhất về khoa học xã hội trong số những người am hiểu kỹ thuật, người mạnh mẽ nhất về khoa học tự nhiên trong số những người yêu thích khoa học xã hội, và người xuất sắc nhất về kỹ thuật trong số những người yêu thích khoa học tự nhiên” này đã bắt đầu viết bản “Tuyên ngôn chống lại những kẻ nổi loạn ở Nam Việt”.

“…Các dân tộc ở Nam Việt, trước khi nhà Tần thiết lập các quận Quý Lâm và Tượng Quận, tất cả đều là những người man rợ, không tôn trọng tổ tiên, không biết chữ viết, và chưa từng có cái tên là quốc gia. Cho đến khi Triệu Đà tự lập, mới bắt đầu có nền văn minh… Và bây giờ, Viện Nguyên lão của chúng ta tại Úc Châu đã điều động một trăm nghìn binh sĩ tinh nhuệ và mười nghìn con

Guo Ling'er nhìn đôi bố con cười ha hả mà không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

  “Con khỉ nào vậy?” Vừa hỏi xong, Guo Ling'er liền nhìn thấy những tài liệu trên bàn, đặc biệt là bản đồ Bán đảo Trung-Nam mà cô đã xem đi xem lại rất nhiều lần – và ngay lập tức cô hiểu ra: hóa ra chồng mình đang suy nghĩ về những vấn đề quốc gia.

  “Chồng ơi, con thuyền sắp đến rồi, có cần thay đồ không ạ?” Guo Ling'er vừa dọn dẹp đồ đạc trên bàn vừa hỏi.

  “Ừm, hãy treo lá cờ của ta lên.” Lưu Tiêng gật đầu.

  Kể từ khi ông Minh Lão đã treo lá cờ của mình trên tàu Lập Xuân, đại đa số mọi người đều cho rằng việc này nên được áp dụng rộng rãi cho tất cả các vị lão thành viên trong hội đồng. Thêm vào đó, sự thúc giục của các vị lão như Hồng Hoàng Nam, người luôn nỗ lực không ngừng để thành lập Viện Huy hiệu, đã khiến ban lãnh đạo quyết định cho phép mỗi vị lão tự thiết kế huy hiệu và lá cờ của mình. Khi thông báo này được công bố, 500 vị lão thành viên lập tức như bị ném vào “nồi dầu nóng”, và chỉ trong chốc lát, các cửa hàng liên quan đến nghệ thuật và thiết kế đều trở nên đông đúc khách hàng; những người thợ nghệ thuật nước ngoài như Terini cũng trở nên rất được săn đón.

  Hình ảnh mà Lưu Tiêng tự thiết kế không hề phức tạp; ban đầu anh chỉ định sử dụng chữ “Lưu” viết theo kiểu triện thư. Tuy nhiên, vì “Lưu” là một họ phổ biến, và có khá nhiều vị lão thành viên cùng họ này, vì muốn tạo sự khác biệt, Lưu Tiêng đã thêm một vòng rồng đỏ và rắn trắng bao quanh chữ “Lưu”; rồng đỏ ở phía trên, rắn trắng ở phía dưới – điều này ám chỉ đến câu chuyện về việc Cao Tổ đã giết con rắn trắng và Đế Chính đã giết con rắn trắng. Biện pháp này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các vị lão họ Lưu khác, và cuối cùng Lưu Tiêng buộc phải nhượng bộ: các vị lão họ Lưu muốn sử dụng biểu tượng rồng đỏ và rắn trắng này đều được phép.

  Mặc dù biểu tượng rồng đỏ và rắn trắng có vẻ phức tạp hơn so với những huy hiệu kiểu châu Âu với hoa, cỏ, sư tử, đại bàng… nhưng so với những huy hiệu đó, nó vẫn được coi là khá đơn giản và rõ ràng. Ít nhất, việc thêu hình rồng đỏ và rắn trắng cũng không quá khó đối với những người phụ nữ thêu ở khu vực Giang Nam, vì họ đã rất quen thuộc với những kỹ thuật này.

  Đầu tiên, lá cờ Khai Minh Tinh được treo lên, sau đó là lá cờ cá nhân của Lưu Tiêng. Lưu Tiêng ôm con gái đứng trên boong tàu, chịu đựng ánh nắng mặt trời chi

1/1 0%