lore

Chương 238: Ban hành luật pháp

12,190 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Suốt tháng Bảy, lãnh địa của Nam tước ở Thung lũng luôn trong tình trạng bận rộn. Là người lãnh đạo cả quân sự và dân sự, Anh Gác dành hết thời gian để đi lại liên tục giữa quân đội và lãnh địa của mình.

Vào thứ Sáu tuần thứ tư của tháng Bảy, cuối cùng Anh Gác cũng có một ngày nghỉ. Ông dự định mang theo hai con chó săn nai vào rừng để giải trí, nhưng lại nhận được tin có một người bạn cũ đến thăm Thung lũng.

Người đến thăm chính là anh em hiệp sĩ của Anh Gác – Hiệp sĩ vệ binh cung đình David Patrick.

Kể từ khi chia tay nhau tại Lâu đài Sol vào năm ngoái, đã gần nửa năm họ không gặp nhau. Cuộc hẹn vào mùa xuân năm đó đã bị hoãn vài tháng, nhưng khi gặp lại nhau, Anh Gác đã trở thành một Nam tước.

Tại phòng tiếp khách của lâu đài gỗ ở Thung lũng, Anh Gác cùng với Odo Anh Gác và một số chỉ huy quân đội đã tổ chức một bữa tối đơn giản cho David và đoàn người của ông.

Sau vài ly bia ngon lành, David bắt đầu trò chuyện với mọi người: “Thưa Ngài Nam tước, các hiệp sĩ, xin lỗi vì tôi đã không thể đến gặp các ngài. Từ đầu mùa xuân năm nay đến nay, tôi liên tục chiến đấu cùng với Schwa, và thực sự không thể rảnh rỗi để đến thăm các ngài.” David ngay lập tức xin lỗi Anh Gác khi gặp mặt.

Anh Gác cũng biết khá nhiều về những gì David đã trải qua sau khi trở về phía bắc. Sau khi trở về từ Provence, nhờ vào thư giới thiệu của Anh Gác, David đã dùng món quà 5.000 fen để mở cánh cửa dinh thự của Bá tước Bào Áp Văn. Sau đó, Bá tước Bào Áp Văn đã giúp David nhận được một phần thưởng quân công, và Hiệp sĩ vệ binh cung đình David Patrick đã được ban tặng một làng nhỏ ở biên giới phía đông bắc của tỉnh Lyon thuộc Công quốc Burgundy làm lãnh địa...

“…Thật ra, việc nhận được một lãnh địa như vậy đã là điều rất may mắn rồi. Sau khi được phong tặng, tôi đã đưa hài cốt của những người anh em đã hy sinh cùng với khoản tiền bồi thường về quê hương, sau đó cùng với vài người anh em còn sống sót đến lãnh địa để nhận chức.”

“Tôi nghĩ rằng lãnh địa mà triều đình ban tặng cho tôi sẽ không mấy giàu có, bởi vì những lãnh địa giàu có chắc chắn sẽ không bao giờ thuộc về một người nhỏ bé như tôi. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên là nghe người ta nói, mảnh đất ở đó rất màu mỡ, làng cũng rất giàu có, có hơn 100 hộ gia đình và hơn 400 người dân. Lúc đó, tôi thực sự rất vui mừng.”

“Tuy nhiên, chưa đầy hai ngày sau, niềm vui đó đã tan biến. Khi tôi tìm hiểu kỹ hơn, tôi mới biết rằng mình chỉ là vị lãnh địa thứ ba tại đó trong vòng hai năm qua. Bởi v

Át giơ tay ra hiệu cho Đại Vương tiếp tục nói.

Đại Vương cầm ly rượu lên vẫy mời Át và mọi người rồi uống một hơi, sau đó lau nhẹ khuôn mặt xấu xí của mình và tiếp tục nói: “Tôi cùng những người anh em đi theo tôi đến lãnh địa để đảm nhận trách nhiệm đều là những người đã trèo dậy từ đống xác chết. Nơi đó không thể chấp nhận việc người Schwaben bắt nạt và chiếm đoạt lãnh địa của tôi. Rất nhanh sau đó, tôi đã tập hợp khoảng hai mươi thanh niên còn lại trong lãnh địa, mua sắm vũ khí áo giáp để trang bị cho họ, sau đó liên tục huấn luyện họ trong lãnh địa…”

“Cuối cùng, vào đầu mùa xuân khi băng tuyết vừa tan, chúng tôi đã phục kích một đội quân Schwaben đến cướp bóc. Chúng tôi đã giết chết tám người và đánh bại hơn ba mươi người khác. Trận chiến đó đã truyền cảm hứng lớn cho người dân trong lãnh địa; nhiều người dân trước đây đã bỏ chạy nay khi nghe tin về thành tích chiến đấu của chúng tôi đều trở về quê hương. Chẳng mấy chốc, dưới trướng tôi đã có được khoảng năm mươi thanh niên, và tu sĩ Chaucer trong lãnh địa của tôi cũng đã gia nhập đội quân của chúng tôi để chống lại kẻ thù và bảo vệ quê hương.”

Nói xong, Đại Vương xoay người để Át nhìn người tu sĩ gầy yếu ngồi bên cạnh mình; Át gật đầu và chào hỏi một cách lịch sự.

“Nhờ có sự tư vấn của tu sĩ Chaucer, chúng tôi không chỉ liên tục đẩy lùi hai cuộc trả thù của người Schwaben mà còn chủ động tấn công các trạm kiểm soát và vài doanh trại nhỏ của quân đội Schwaben, giết chết hơn ba mươi kẻ địch và thu giữ được nhiều vũ khí áo giáp cùng hàng tồn tài khác…”

Đại Vương kể về những trận chiến gay cấn và nguy hiểm mà họ đã trải qua, khiến tất cả các sĩ quan có mặt tại bữa tiệc đều cảm thấy hào hứng.

“Thưa Lãnh chúa, tôi phải cảm ơn sự hào phóng của ngài. Nếu không có số tiền hai mươi nghìn fenni mà ngài cho tôi mượn, tôi sẽ không thể bước vào dinh thự của Bá tước Bào Áp Văn; nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, những công lao quân sự của tôi cũng sẽ không ai biết đến, và việc tôi nhận được lãnh địa cũng sẽ trở nên xa vời.” “Cũng may mắn vì sự hào phóng của ngài, tôi mới có đủ tiền để tập hợp thanh niên mua sắm vũ khí áo giáp để trang bị cho người dân và cùng người Schwaben chiến đấu…”

Đại Vương nâng ly rượu lên, đứng dậy và cúi đầu sâu trước Át, nói một cách chân thành: “Thưa Lãnh chúa Át, từ khi ngài đã dang tay giúp đỡ tôi thoát khỏi địa ngục trên chiến trường Provence, cho đến khi ngài hào phóng giúp đỡ t

Lợi nhuận từ chiến tranh thật sự rất lớn; sau vài trận đánh, túi tiền của David đã phình to ra, và anh ta cũng trở nên hào phóng trong mọi việc.

Hiện tại, Art thực sự đang thiếu tiền, vì vậy anh ta không ngần ngại chấp nhận lời đề nghị của David: “Thưa Ngài David, tôi xin nhận hai vạn fen và con ngựa chiến…”

David và đoàn người của mình không ở lại lâu tại lãnh địa của Nam tước ở thung lũng, bởi trước khi xuống phía nam, ông đã ghé thăm Bá tước Bào Áp Văn tại Besançon, và Bào Áp Văn đã giao cho David nhiệm vụ “đào tạo binh sĩ để sẵn sàng phục vụ”. Vì vậy, David cần phải vội vàng trở về lãnh địa của mình để tiếp tục huấn luyện binh sĩ và sẵn sàng đáp ứng mọi lệnh triệu tập từ Bào Áp Văn.

Cuối tháng Bảy, Art đã tổ chức hai cuộc họp lớn, một dành cho công tác dân sự và một dành cho quân đội. Cả hai cuộc họp này chỉ có một nội dung duy nhất: công bố các điều luật quân sự và dân sự mới.

Việc tuyển mộ binh sĩ mới vẫn chưa được bắt đầu chính thức, vì vậy số lượng binh sĩ hiện tại còn khá ít. Tất cả các trưởng nhóm chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Art (bao gồm cả những binh sĩ khác được hưởng đặc quyền) đều đang theo học tại Học viện Sĩ quan, vì vậy không cần phải tổ chức thêm cuộc họp nào khác. Tại cuộc họp quân sự, Art đã tự mình ban hành và đọc thông báo về “Điều luật Quân đoàn”.

“Điều luật Quân đoàn” được chia thành ba phần chính, bao gồm 18 điều cấm, 15 điều liên quan đến việc quản lý quân đội, và 6 điều về việc thăng chức hay giáng chức.

Trong số đó, 18 điều cấm là những quy định quan trọng nhất, bao gồm “năm hình phạt tử hình, sáu hình phạt đánh đập bằng roi, và bảy hình phạt khác”.

“Năm hình phạt tử hình” áp dụng trong các trường hợp như: phản bội lệnh của chỉ huy trong thời gian chiến tranh; bỏ trốn trước trận chiến; gây rối loạn tinh thần quân đội; đánh nhau giết người trong quân đội; cất giấu số lượng lớn chiến lợi phẩm.

“Sáu hình phạt đánh đập bằng roi” áp dụng đối với những hành vi như: chửi bới chỉ huy trong thời bình; đánh nhau gây thương tích trong quân đội; trộm cắp vật tư quân sự; mất vũ khí trong trận chiến; gian lận trong quá trình huấn luyện; áp bức người khác; hoặc những tội danh mà chỉ huy cho là cần phải được trừng phạt bằng roi. Trong thời gian chiến tranh hoặc trong tình huống khẩn cấp, các hình phạt này có thể được nâng lên thành tử hình.

“Bảy hình phạt khác” bao gồm những hình phạt nhẹ hơn như tịch thu lương thù lao hoặc giam giữ, chẳng hạn như

Át yêu cầu tất cả các chiến binh và sĩ quan từ cấp trưởng đội chiến đấu trở lên phải học thuộc lòng “Đạo luật của Quân đoàn”, và sau này họ phải truyền đạt nội dung đạo luật này cho tất cả các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của mình. Trong quá trình huấn luyện, các tân binh cũng được yêu cầu thành thạo nội dung của “Đạo luật của Quân đoàn”...

So với tính đơn giản, dễ hiểu và những quy định rõ ràng về phần thưởng và hình phạt trong “Đạo luật của Quân đoàn”, bộ luật của hệ thống dân sự lại phức tạp và rườm rà hơn nhiều.

Luật pháp do bộ phận dân sự ban hành có tên là “Bộ luật Lãnh địa”, bao gồm nhiều lĩnh vực như phân bổ đất đai, thu thuế, nghĩa vụ quân sự và lao động công ích, duy trì an ninh xã hội, thương mại và công nghiệp.

Trong “Bộ luật Lãnh địa”, có bốn lĩnh vực cốt lõi nhất:

Thứ nhất là việc phân bổ đất đai. “Bộ luật Lãnh địa” quy định rằng hai mảnh đất thuộc về lãnh chúa nam tước ở thung lũng đều thuộc về Át · Wood · Wells – lãnh chúa nam tước biên giới của triều đình. Những người dân tự do sống trong lãnh địa có quyền thuê đất của lãnh chúa suốt đời, với điều kiện họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến đất đai. Quyền thuê đất này được áp dụng theo đơn vị hộ gia đình; lượng đất mỗi hộ có thể nhận được phụ thuộc vào số lượng người trong gia đình đó tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Việc phân bổ đất đai cụ thể do bộ phận dân sự quản lý, nhưng phải tuân theo nguyên tắc công bằng.

Những người dân được hưởng quyền thuê đất này thuộc về một tầng lớp nằm giữa nô lệ và nông dân tự cày cấy; họ có tư cách tự do nhưng không sở hữu đất đai riêng. Bất kỳ người dân tự do nào tuyên thệ trung thành với lãnh chúa, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình và có khả năng canh tác đều có thể nhận được một mảnh đất từ lãnh chúa. Người dân tự do có quyền tự quản lý đất đai mà mình được cấp; tuy nhiên, nếu họ mất khả năng canh tác, từ chối thực hiện nghĩa vụ liên quan đến đất đai hoặc vi phạm “Bộ luật Lãnh địa”, lãnh chúa có quyền thu hồi đất đó mà không cần phải đưa ra bất kỳ điều kiện nào.

Ngoài quyền thuê đất thông thường, “Bộ luật Lãnh địa” còn quy định một số hệ thống phân bổ đất đai đặc biệt, bao gồm “quyền đất vì công lao”, “quyền đất ân huệ” và “hệ thống đất công cộng”.

“Quyền đất vì công lao” chủ yếu được áp dụng đối với các sĩ quan và binh sĩ trong quân đội, cũng như các quan chức dân sự (trong một số trường hợp đặc biệt, người dân bình thường cũng được hưởng quyền này). Trong trường hợp bị th

“Đất công cộng” là những khu đất thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ phận dân sự; ngân sách dân sự được sử dụng để thuê nông dân hoặc tuyển mộ tù binh chiến tranh (những người đã từng phạm tội và được cải tạo) để canh tác trên những khu đất này. Toàn bộ sản phẩm thu được từ việc canh tác đều thuộc về bộ phận dân sự và được họ sử dụng một cách thống nhất.

Thứ hai là vấn đề thu thuế. Khi lãnh thổ và số lượng dân cư trong lãnh địa của Nam tước Thung lũng ngày càng mở rộng, thuế đất sẽ trở thành một nguồn thu nhập quan trọng cho ngân sách lãnh địa. Vì vậy, At đã tăng mức thuế đất, chia thuế đất thành các loại sau: thuế tiền thuê đất (một phần mười), thuế đầu người (một phần mười), thuế an ninh (với mức thu thấp), thuế xây dựng lãnh địa (với mức thu thấp), và thuế mười phần một do giáo hội thu nhận.

Thứ ba là vấn đề nghĩa vụ quân sự. At quyết tâm xây dựng một quân đội chủ yếu dựa trên hệ thống quân đội chính quy; quân đội này gồm chủ yếu là binh sĩ chuyên nghiệp, kèm theo các binh sĩ tạm thời được tuyển mộ từ nông dân. Do đó, trong “Bộ luật Lãnh địa”, việc nộp thuế khiên được sử dụng thay cho nghĩa vụ quân sự 40 ngày hàng năm của dân cư. Số tiền thu được từ thuế này được dùng để duy trì quân đội. Đồng thời, bộ luật cũng quy định rằng dân cư phải tham gia huấn luyện có trả lương theo kế hoạch được đặt ra (tham gia huấn luyện quân sự trong một khoảng thời gian nhất định, và lãnh chúa sẽ cung cấp thức ăn và một khoản tiền lương tượng trưng cho những người tham gia huấn luyện), và phải sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự mà không cần được trả lương trong các tình huống khẩn cấp (trong thời gian chiến tranh hoặc khi lãnh địa bị đe dọa). Đối với vấn đề lao động công ích của dân cư, “Bộ luật Lãnh địa” cũng có quy định riêng: để các nông dân có thể tập trung vào công việc canh tác sản xuất, At cho phép họ nộp thuế lao động công ích thay cho việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích bắt buộc. Chỉ cần họ nộp đầy đủ số tiền thuế đó, họ sẽ không bị buộc phải bỏ dở công việc canh tác của mình để phục vụ lãnh chúa; số tiền thuế họ nộp sẽ được dùng để thuê những người lao động khác thực hiện công việc đó.

Thứ tư là vấn đề an ninh. Trước tình hình dân số trong lãnh địa tăng lên nhanh chóng và tình hình an ninh ngày càng trở nên nghiêm trọng, “Bộ luật Lãnh địa” đã quy định rõ những chuẩn mực hành vi mà dân cư phải tuân thủ, cũng như các biện pháp trừng phạt đối với những người vi phạm những chuẩn mực đó.

Để đảm bảo việc thực thi các quy định về an ninh, hai cơ quan

1/1 0%