lore

Chương 1140: Vì đức tin, vì Sa hoàng, vì tổ quốc

13,777 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sự vận hành của thế giới tuân theo các quy luật tự nhiên; dòng sông Thames không thể chảy ngược, và sông Volga cũng vậy.

Hôm nay, Arthur Hastings thức dậy sớm hơn bình thường nửa tiếng đồng hồ.

Mặc dù ông không mấy quan tâm đến trang phục của mình, nhưng nếu muốn thành công tại Whitehall, bạn buộc phải tuân theo những quy tắc ở đây.

Đặc biệt là trong một cơ quan quý tộc như Bộ Hải quân, ngay cả khi bạn không phải là người thuộc tầng lớp quý tộc, bạn vẫn phải chuẩn bị bản thân một cách chỉn chu.

Hôm nay, ông đã cố tình mặc bộ đồ lễ sáng vừa được gửi đến từ phố Benjamin, và ngay cả Elder – người đi cùng ông – cũng bị Arthur yêu cầu phải chú trọng đến vẻ ngoài của mình.

Mặc dù Arthur tự nhận rằng mình không thích những hình thức kiểu cách này, nhưng điều đó không có nghĩa là ông sẵn lòng làm mất mặt cho Bộ Hải quân trước mặt khách quốc gia Nga.

Vào lúc 7 giờ 15 phút, chiếc xe ngựa đã đến đúng giờ trước cổng tòa nhà Whitehall.

Vào thời điểm này, Whitehall vẫn còn bị phủ một lớp sương mai mỏng manh; gió thổi từ hướng sông Thames mang theo mùi tanh của cá và khói than; các đèn đường vẫn chưa tắt hết, ánh sáng mờ ảo tỏa ra trong làn sương.

Người lính canh đứng trước cổng tòa nhà Whitehall rõ ràng vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo; mãi đến khi cây gậy của Arthur chạm vào mặt đất trước mặt anh ta, chàng trai mới bỗng nhiên giật mình.

Anh ta vội vàng đưa tay chào: “Chào buổi sáng, Ngài!”

“Chào.” Arthur gật đầu nhẹ, không nói thêm gì nữa.

Ông thực sự không có tâm trạng để quan tâm đến những việc nhỏ nhặt như vậy; lịch trình công việc hôm nay cũng giống như mọi khi, đầy rẫy các cuộc họp. Và ông còn phải dành thời gian để tiếp đón một vị khách đặc biệt – Bộ trưởng Giáo dục Dân sự của Nga, Sergei Uvarov.

Việc chuẩn bị cho cuộc gặp này bắt đầu từ sau lễ duyệt binh hôm kia, khi ông nhận được lời mời “gặp lại nhau” từ Sa hoàng.

Bộ Ngoại giao hành động nhanh chóng đến mức ngay trong đêm hôm đó, họ đã liên lạc với đoàn đại sứ Nga để thảo luận và quyết định rằng Uvarov sẽ là người đại diện để thảo luận về các vấn đề hợp tác khoa học giữa hai nước với Arthur – một quan chức Anh từng giữ chức vụ giám hiệu tại Đại học Göttingen.

Mặc dù việc Bộ Hải quân đứng ra đảm nhận công tác hợp tác khoa học có vẻ hơi kỳ lạ, nhưng xét đến Whitehall, có lẽ không có bộ nào khác có thể làm việc một cách “khoa học” hơn Bộ Hải quân.

Thật là kỳ lạ… Một quốc gia lớn như Vương quốc Anh và Ireland, một quốc gia dẫn đầu thế giới về tiến bộ khoa học và công n

Trong suốt hàng trăm năm qua, công tác giáo dục ở Anh về cơ bản luôn gắn liền với các hoạt động tôn giáo và từ thiện. Mãi tới năm 1839, chính phủ Anh mới chậm rãi thành lập Ủy ban Giáo dục để phụ trách việc phân bổ ngân sách cho giáo dục tiểu học và giám sát các trường học.

Còn về lĩnh vực khoa học, chính phủ lại thể hiện sự yếu kém rõ rệt; cho đến nay, mọi hoạt động nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực này vẫn do các tổ chức phi chính phủ và công ty tư nhân tự tổ chức.

Sự hỗ trợ của chính phủ đối với khoa học cũng chỉ giới hạn ở những khoản tài trợ hàng năm dành cho Hội Hoàng gia.

Có người có thể thắc mắc: Chẳng phải Bộ Hải quân hàng năm cũng tổ chức nhiều hoạt động khoa học sao?

Đúng vậy, Bộ Hải quân thực sự tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học mỗi năm, nhưng thay vì coi đó là thành quả của trí tuệ tập thể của chính phủ, có lẽ nên nhận định rằng điều này xuất phát từ sở thích cá nhân của Ngài John Barrow – cựu Thư ký thứ hai của Bộ Hải quân.

Lý do Bộ Hải quân tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học có vẻ không mang lại lợi ích trực tiếp nào, phần lớn là nhờ vào sự kiên trì của Ngài Barrow. Và sự hỗ trợ của ông có thể được thực hiện nhờ vào uy tín mà ông đã xây dựng được trong suốt nhiều năm tại Bộ Hải quân, cùng với thái độ khoan dung của dư luận Anh đối với những cuộc phiêu lưu khoa học.

Chính vì vậy, ngay cả sau khi Ngài Arthur đảm nhận chức vụ Thư ký thứ hai, ông cũng không hủy bỏ những hoạt động nghiên cứu khoa học mà Ngài Barrow trước đó đã tổ chức.

Thậm chí, sau thảm họa trong chuyến thám hiểm sông Niger, ông còn bảo vệ Đại tá William Allen và an ủi ông không cần quan tâm đến những lời chỉ trích từ dư luận, cũng đừng nên nản lòng vì những thất bại tạm thời.

Mặc dù theo tình hình hiện tại, người Anh có lẽ khó có thể chống chịu được các bệnh nhiệt đới, nhưng ông tin rằng với sự phát triển của y học hiện đại, những khó khăn này rồi sẽ được vượt qua.

Việc Ngài Arthur vẫn kiên trì thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực khoa học tại Bộ Hải quân trong bối cảnh khó khăn như vậy, chứng tỏ tấm lòng chân thành của ông. Chúng ta thậm chí có thể khẳng định rằng, lập trường của ông đối với khoa học có lẽ còn kiên định hơn cả lập trường của ông trong các vấn đề liên quan đến chủ nghĩa bảo thủ hay chủ nghĩa tự do.

Với những lý do trên, việc ông đảm nhận trách nhiệm điều phối công tác khoa học là điều không thể tranh cãi. Hơn nữa, bản thân ông cũng là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực

Kể từ khi bước chân vào giới học thuật vào năm 1830, Ngài Arthur đã đóng góp đáng kể trong nhiều lĩnh vực mới như cảm ứng điện từ, hệ phương trình động lực học chất lỏng, và số Hastings-Froude. Trong thời gian làm việc tại Bộ Hải quân, với tư cách là một quan chức chuyên môn, ông đã bất chấp mọi ý kiến phản đối để thúc đẩy dự án cải tạo con tàu “Albion”, mang lại công nghệ động cơ hơi nước và thiết kế máy tuabin cho Hải quân Hoàng gia, qua đó nâng cao đáng kể tốc độ và khả năng cơ động của các con tàu.

Trong dự án “Đường dây điện báo xuyên Đại Tây Dương”, ngay cả khi gặp phải sự không hiểu biết của xã hội và những tranh cãi trong giới học thuật, ông vẫn dám đưa ra những giả thuyết mạnh mẽ và tiến hành kiểm chứng cẩn thận; ông đã chủ trì và tham gia trọn vẹn quá trình thực hiện dự án này.

Arthur ngồi trên ghế sofa trong văn phòng, cầm chiếc cốc trà trên tay, và càng đọc bản thảo trước mắt, lông mày ông càng nhíu chặt lại. Đọc được nửa chừng, ông không nhịn được nữa mà đặt cốc xuống và hỏi Eld đang ngáp ngủ bên cạnh: “Bản thảo này do ai viết vậy?”

Eld ngáp liên hồi rồi vươn người ra ngoài cửa sổ: “Còn ai có thể viết kiểu này được nữa chứ? Ngoại trừ Luís kia, thì không ai khác có thể viết như vậy đâu.”

“Luís?” Arthur tức giận ném bản thảo xuống đất: “Không làm việc ở Fleet Street nữa, lại học theo thói quen của những quan chức… Chẳng lẽ hắn ta muốn chiếm cái ghế này dưới chân tôi à?”

“Thói quen của quan chức ư? Tôi không thấy bài viết này có gì giống thói quen của quan chức cả…” Eld nhặt bản thảo lên và nhìn qua: “Ai ở Whitehall lại viết kiểu này chứ?”

“Chắc là Ngài đang nhớ đến cách làm của Nga…” Blackwell, người đang ngồi làm việc bên cạnh, không nhịn được mà nói: “Khi tôi ở Saint Petersburg, tôi có một người bạn là cảnh sát trưởng địa phương. Một lần tôi đến nhà anh ấy chơi, những bản đơn xin thưởng mà anh ấy đặt trước mặt đều được viết theo cách này.”

Eld, người không biết tiếng Nga, hoàn toàn không hiểu: “Gì cơ? Câu tiếng Nga bạn vừa nói là gì vậy?”

“Đó là bản đơn xin thưởng, cấu trúc giống hệt bản thảo này.” Blackwell nhớ lại: “Phần đầu thường ghi là ‘Kính gửi Thượng nghị sĩ Bộ Nội vụ’, sau đó là thông tin về người giới thiệu và phần mô tả thành tích… Bản thảo của Luís cũng giống như phần mô tả thành tích đó.”

Nghe vậy, Eld bỗng hiểu ra: “À, tôi quên mất rồi… Bạn ấy đã ở Nga nhiều năm đấy. Theo bạn nói, lúc đó bạn ấy sống khá tốt ở Saint Petersburg phải không?”

“Cũng tạm được thôi.” Mỗi khi nhắc đến Nga, khuôn mặt Blackwell không khỏi nở nụ cười; dù sao thì những ngày sống ở Nga cũng là khoảng thời gian rực rỡ nhất trong cuộc đời ông: “Tuy nhiên, tôi thực sự có khá nhiều bạn bè ở Nga. Tất nhiên, so với Ngài Tướng quân thì không thể sánh được; vòng tròn của các cố vấn chính trị lớn hơn nhiều so với những người hầu cận bình thường như tôi. Vị Bá tước Uvarov mà chúng ta sẽ đến thăm hôm nay, Ngài Tướng quân từng có mối quan hệ khá tốt với ông ấy.”

“Gì cơ?” Elder nhìn Arthur với vẻ ngạc nhiên: “Arthur, anh quen biết ông ấy à? Nếu vậy, tại sao hôm nay lại phải tổ chức một buổi gặp mặt long trọng đến thế?”

“Quen biết thì cần gì phải long trọng chứ?” Arthur cầm tờ báo lên và nhấp một ngụm trà: “Tôi cũng quen biết Hoàng đế Nicholas mà, điều đó có nghĩa là tôi có thể mặc luộm thuộm đến gặp ông ấy sao?”

Dĩ nhiên, những lời nói của Arthur chỉ là đùa cợt thôi; nhưng nếu Uvarov chỉ đơn giản là Bộ trưởng Giáo dục Quốc gia của Nga, thì thật sự không cần phải coi trọng việc này đến thế; chỉ cần qua loa một cái là xong.

Nhưng thật không may, địa vị của Uvarov ở Nga lại vô cùng đặc biệt.

Nicholas I cai trị Nga thông qua hai phương thức chính: một là thông qua Cơ quan Thứ ba do Benkendorf điều hành để thực hiện kiểm soát vật chất; hai là thông qua “Ba nguyên tắc” do “Thầy dạy của quốc gia” Uvarov đề xuất – đó là Chủ nghĩa Chính thống Đông phương, chế độ độc tài và tính dân tộc – được coi là “ neo đá” cứu vãn đất nước.

Mặc dù những nguyên tắc này có vẻ chỉ là khẩu hiệu, nhưng thực tế, Nicholas I luôn áp dụng chúng trong quá trình cai trị.

Nói chung, người bình thường không cần phải nghiên cứu sâu về Nga đến thế; nhưng vào thời điểm đó, mùa đông ở Saint Petersburg quá lạnh, và Arthur, người bị đày đến đây, lại cảm thấy rất rảnh rỗi; vì vậy, theo sở thích cá nhân, ông đã đọc hết tất cả các tác phẩm của Uvarov, người cũng có nền tảng học vấn lịch sử.

Nói chung, Uvarov là một người ủng hộ thuyết định mệnh lịch sử và quá trình tiến triển lịch sử.

Theo lời ông ấy, mọi nền văn minh đều trải qua các giai đoạn như “thời thơ ấu”, “thời thanh thiếu niên”, “thời trưởng thành” và “thời già”. Bản chất của lịch sử chính là sự kế thừa từ đời này sang đời khác của những dân tộc được Thượng đế chọn lựa; nếu Nga có thể hoàn thành sứ mệnh mà Thượng đế đã giao phó, xây dựng một đế chế Slav và dẫn dắt nó thực hiện sứ mệnh đó, thì tương lai sẽ thuộc về người Slav. Để đạt được điều này, cần phải giữ vững

May mắn thay, vào thời gian Arthur ở Nga, ông Uvarov vừa được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Giáo dục Dân sự của Nga, vì vậy đến tận bây giờ Arthur vẫn nhớ rõ bài phát biểu của ông Uvarov khi nhậm chức.

“Chính nhờ ba nguyên tắc cơ bản này – Chủ nghĩa Chính thống, chế độ độc tài và bản sắc dân tộc – mà người dân Nga mới tin tưởng sâu sắc vào Chủ nghĩa Chính thống và trung thành với Sa hoàng. Chế độ độc tài là điều kiện cơ bản và tiền đề cần thiết để Nga có thể tồn tại cho đến ngày nay; bản sắc dân tộc của Nga là công cụ hiệu quả để củng cố truyền thống dân tộc, chống lại ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, đặc biệt là trong cuộc đối đầu với các tư tưởng tự do phương Tây, quan điểm về cá nhân tự do, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cấp tiến; còn Chủ nghĩa Chính thống thì là vũ khí lý tưởng để chống lại ‘tư tưởng tự do’ và những hành vi kích động xấu xa.”

Nếu những lời này đến tai những người theo chủ nghĩa tự do, có lẽ họ sẽ muốn đánh ông Uvarov này một trận.

Nhưng với tư cách là người đã từng có tiếp xúc với ông Uvarov, ấn tượng của Arthur về vị Bộ trưởng Giáo dục này thực sự không tồi. Một mặt, bởi vì ông Uvarov đã học đại học, thậm chí là tại Đại học Göttingen; mặt khác, Arthur hiểu rằng nếu ông Uvarov không lên tiếng như vậy, thì cũng chẳng phải anh ta sẽ trở thành Bộ trưởng Giáo dục của Nga đâu.

Trong những cuộc trò chuyện riêng tư, Arthur thậm chí còn phát hiện ra rằng xu hướng chính trị của ông Uvarov còn tự do hơn nhiều so với những gì anh ta tưởng tượng. Điều này không có nghĩa là ông Uvarov nói một đường làm một nẻo; vị quan chức học giả này đã thẳng thắn nói với Arthur: “Châu Âu trong khoảng thời gian từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 đã trải qua giai đoạn chuyển tiếp khó khăn từ tuổi teen sang tuổi trưởng thành. Tuổi teen có thể được coi là giai đoạn của chế độ độc tài quân chủ; chế độ độc tài chính là sản phẩm tất yếu của lịch sử giai đoạn này. Nhưng theo thời gian, các vị vua dần nhận ra rằng họ cần phải áp dụng các biện pháp để đảm bảo sự phát triển của đất nước; nhờ đó, quyền lực của họ được xây dựng dựa trên các chuẩn mực pháp luật và lợi ích của xã hội, chứ không phải dựa trên ý muốn cá nhân, và quyền lực của những người cai trị độc tài cũng bị hạn chế. Các quốc gia Châu Âu đã gần hơn với tuổi trưởng thành so với Nga, nhưng họ đã phải trải qua những cuộc cách mạng do đi sai con đường. Nga vẫn còn là một quốc gia non trẻ, vì vậy nên học hỏ

Bởi vì lịch sử sẽ cho chúng ta thấy rằng những cuộc cải cách chính trị lớn thường là kết quả của quá trình dài hơi, của sự tự do hành động của tinh thần dân tộc và của sự trao đổi lợi ích giữa các tầng lớp trong xã hội; do đó, Nga chắc chắn sẽ trải qua một quá trình tiến tới tự do chính trị một cách tự nhiên. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để từ từ bãi bỏ chế độ nô lệ một cách từ từ, như vậy thì giới quý tộc mới không bị kích động, người nông dân cũng không trở thành người ăn xin, và xã hội mới có thể chuyển đổi một cách ổn định.

Mặc dù Arthur có thể không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Uvarov, nhưng ông cũng không hoàn toàn phủ nhận nó. Là một người có tầm nhìn xa trông rộng, Arthur tự nhiên tin vào quan điểm “thuyết quá trình lịch sử”; điều duy nhất ông nghi ngờ là liệu tương lai của Nga có thực sự diễn ra theo hướng mà Uvarov đã dự đoán hay không?

Tuy nhiên, ngay cả khi Nga không đi theo hướng đó, ông cũng không hề coi thường những thành tựu lịch sử của Uvarov. Bởi vì lịch sử thực chất là một ngành học tổng kết quá khứ; còn việc dự đoán tương lai thì chỉ có những nhà tiên tri mới có thể làm được.

Là một nhà sử học, Uvarov rõ ràng đủ tư cách để làm điều đó, và ông cũng đã không làm uổng danh người tốt nghiệp Đại học Göttingen… Còn việc ông không thể trở thành một nhà tiên tri…

Thì điều đó cũng không thể coi là lỗi của ông được.

Ngay cả khi cuối cùng Uvarov thất bại, và mong muốn của ông – đó là giúp Nga bình yên bước vào giai đoạn trưởng thành – vẫn bị cuộc cách mạng đánh gục, thì điều đó vẫn có thể được coi là một ví dụ để các nhà sử học sau này rút ra kết luận rằng con đường đó là không thể thực hiện được.

1/1 0%