lore

Chương 626: Tin vui liên tục đến.

14,855 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong văn phòng đại sứ quán, Arthur ngồi co chân, vừa hâm nóng cơ thể bằng lửa, vừa uống trà đen và lướt qua những tờ báo chính thống của Nga như “Moscow Telegraph”, “Russian Newspaper” vừa mới được in ra. Có lẽ vì tính cách của người Nga vốn dĩ hung hăng hơn người Anh khá nhiều, nên ngay cả nội dung các tờ báo cũng thể hiện rõ sự khác biệt đó.

Những tờ báo này không hề có kiểu viết mập mờ, ám chỉ hay giận dữ như “The Times”; toàn bộ nội dung đều mang tính công kích trực tiếp.

“Bào chữa cho một kẻ điên? Kẻ phản bội dân tộc! Người theo đuổi những quan niệm bệnh hoạn của phương Tây!”

— Gần đây, giới văn học Nga đã gặp phải một tin tốt và một tin xấu. Tin tốt là tác phẩm mới của Phù Xí Chinh, “Hiệp sĩ Đồng”, vẫn giữ được mức độ xuất sắc như mọi khi. Tin xấu là Peter Yakovlevich Chadayev, kẻ phản bội dân tộc, kẻ phản bội văn hóa và là tên tôi tớ trung thành với người Pháp, đã xuất bản một tác phẩm bôi nhọ có tên “Bào chữa cho một kẻ điên”.

— Những lời ông ta nói đầy sự khinh thường cực đoan đối với tổ quốc và văn hóa dân tộc; ông ta hoàn toàn mất đi phẩm giá và trách nhiệm mà một người Nga đáng lẽ phải có. Ông ta không chỉ xúc phạm lịch sử vĩ đại của chúng ta một cách vô căn cứ, mà còn cố gắng áp đặt những quan niệm suy đồi của phương Tây lên chúng ta, nhằm phá vỡ mối liên kết sâu sắc giữa Nga và truyền thống văn hóa của mình. Chadayev chính là con rắn độc ẩn náu trong máu thịt của dân tộc chúng ta, âm mưu xâm nhập vào tâm hồn chúng ta và phá hủy nền tảng văn hóa vĩ đại của chúng ta.

— Thậm chí, người này còn dám khoe khoang trong tác phẩm của mình rằng: “Tôi yêu đất nước của mình nhiều hơn bất kỳ ai trong phe Slav; tôi mong muốn đất nước này được vinh quang… Tôi cũng hiểu cách đánh giá những phẩm chất cao quý của người dân nước tôi, cách nhấn mạnh và bảo tồn những đặc điểm riêng biệt của đất nước mình. Nhưng tôi chưa học được cách yêu đất nước mình một cách mù quáng, cúi đầu và im lặng. Tôi tin rằng chỉ khi một người có thể nhìn nhận đất nước của mình một cách tỉnh táo, anh ta mới có thể đóng góp cho đất nước đó. Thời đại của những tình cảm mù quáng đã qua; điều chúng ta cần làm trước hết là mang lại chân lý cho tổ quốc… Tôi sẽ yêu đất nước theo cách mà Sa Hoàng Pyotr đã dạy tôi.”

— Thật vậy, trong thời đại của Sa Hoàng Pyotr, những cuộc cải cách theo hướng phương Tây đã được thực hiện. Tuy nhiên, những cuộc cải cách đó không phải là sự theo đuổi mù quáng phương Tây, mà là việc

— Tuy nhiên, Chadaev lại lật ngược đen trắng, nói những lời dối trá một cách khéo léo; ông ta tuyên bố rằng lịch sử Nga là một “con đường vô vọng” và miêu tả một tương lai đầy suy tàn. Nhưng ai có thể tin được rằng một triết gia thực sự tỉnh táo lại có thể mô tả đất nước của mình như vậy, trong sự yếu đuối và suy tàn? Lối suy nghĩ của ông ta hoàn toàn bệnh hoạn, đầy những phủ nhận cực đoan đối với Nga. Ông ta phủ nhận lịch sử của chúng ta, phủ nhận văn hóa của chúng ta, thậm chí còn phủ nhận tương lai của dân tộc chúng ta… Sự ngu dốt và tuyệt vọng ấy chính là minh chứng cho sự bệnh hoạn trong tư duy của ông ta.

— Nếu có điều gì đáng khen ở bài viết này, thì đó chính là tiêu đề của nó: “Bào chữa cho một kẻ điên”. Tiêu đề này quả thực rất phù hợp để mô tả chính ông ta. Chadaev… một kẻ hề không có tình yêu thương đối với tổ quốc! Một kẻ Anh hay Pháp đội lớp da Nga, hoặc có lẽ là sản phẩm lai tạo giữa hai dân tộc đó! Một kẻ thậm chí không thể nhìn thấy giá trị thực sự của đất nước mình, lại dám chỉ trích đế chế vĩ đại của chúng ta!

Arthur đọc tờ báo này một cách rất chăm chỉ; thỉnh thoảng anh ta lại lấy bút ra để đánh dấu những từ ngữ tục tĩu và ghi chú chúng vào cuốn sổ tay mang theo. Sau khi ghi xong một trang, Arthur lại dừng bút, đứng dậy và lặp lại những gì đã viết vài lần trong văn phòng để ghi nhớ sâu hơn. Mặc dù khi ở Druisk, anh ta cũng học được vài câu tục tĩu từ người dân nông thôn và binh lính đóng quân ở đó, nhưng vốn từ vựng của những người nông dân và binh sĩ ấy rõ ràng không thể so sánh được với sự phong phú trong cách họ sử dụng ngôn từ như các nhà văn ở Moscow hay Saint Petersburg.

Thư ký Blackwell, người đang cầm đống tài liệu và vội vàng đẩy cửa vào, bất ngờ gặp phải Arthur đang cố gắng bắt chước kiểu cách của những kẻ lang thang có vẻ ngoài giống người Nga. Bị sếp mắng mỏ gay gắt, bất kỳ ai ở vị trí đó cũng sẽ cảm thấy bối rối. Blackwell vội vàng xin lỗi: “Xin lỗi, Ngài, tôi quên không gõ cửa.”

Arthur lấy khăn ra lau những giọt nước bọt bắn vào miệng do nói quá nhiều, sau đó bình tĩnh trấn an: “Đừng lo lắng, Henry, tôi không đang mắng bạn đâu; tôi đang học tiếng Nga mà thôi.”

Cuối cùng, thư ký mới yên tâm và đặt đống tài liệu lên bàn làm việc: “Học tiếng Nga bằng cách bắt đầu với những từ ngữ tục tĩu ư? Thật là một cách hay đấy… Tôi hiếm khi khen người khác, nhưng hôm nay, Ngài thực sự đã sử dụng những từ ngữ rất “cao cấp” đấy!”

Arthur lấy ra một chiếc ống thu

Thật đáng tiếc là lúc này vẫn chưa có thuốc lá cuộn; nếu có thì việc hút thuốc sẽ tiện lợi và vệ sinh hơn nhiều so với việc dùng bình xì gà chung mà.

Arthur vớ lấy một tài liệu, vừa lật xem vừa hỏi: “Đây là cái gì vậy?”

Blackwell hít một hơi xì gà rồi trả lời: “Đó là báo cáo của Bộ Ngoại giao, được chuyển đến từ đại sứ quán ở Lisbon.”

“Lisbon?” Nghe đến địa điểm này, Arthur lập tức nhớ đến tướng Charles NaBì Nhĩ – người mà ông đã từng gặp một lần tại Lý Vật Phố: “Cuộc nội chiến của người Bồ Đào Nha đã kết thúc chưa?”

Vị tướng tài ba này, cũng giống như Thomas Cockran và Sidney Thị Smith, đều là những người đặc biệt trong Hải quân Hoàng gia. Kể từ khi được Bộ Ngoại giao cử đến Bồ Đào Nha, ông đã liên tục gặt hái thành công.

Khi NaBì Nhĩ đặt chân đến Bồ Đào Nha, phe Tự Do ủng hộ Nữ hoàng Maria II chỉ còn lại căn cứ duy nhất là quần đảo Azores.

Ngay khi NaBì Nhĩ vừa đến Azores, lãnh đạo phe Tự Do, Bá tước Villaflores, không chút do dự đã giao toàn bộ quyền chỉ huy các tàu chiến còn lại cho NaBì Nhĩ.

Lúc bấy giờ, quân đội do cha của nữ hoàng, Hoàng đế Pedro của Brazil, dẫn dắt đang bị quân đội phe Độc tài do em trai ông, Hoàng tử Miguel, chỉ huy bao vây.

NaBì Nhĩ, với lòng dũng cảm và tài năng xuất chúng, đã không ngần ngại phá vỡ lệnh phong tỏa của hải quân phe Độc tài, dẫn đầu đội tàu nhỏ còn sót lại đưa quân đội phe Tự Do an toàn đến vùng Algarve ở miền nam Bồ Đào Nha, thành công trong việc mở ra một chiến trường mới.

Tuy nhiên, khi đội tàu của ông trở về quần đảo Azores, họ đã bị quân đội phe Độc tài đuổi đến và bắt giữ.

Lúc đó, đội tàu của NaBì Nhĩ gồm 6 con tàu: 3 tàu tuần dương, 1 tàu tuần dương hạng nhẹ, 1 tàu buồm hai cột dùng để trinh sát và 1 tàu buồm nhỏ chủ yếu phục vụ mục đích hỗ trợ, tổng cộng trang bị 176 khẩu pháo. Trong khi đó, đội tàu của phe Độc tài gần như là lực lượng mạnh nhất, gồm 4 tàu chiến, 1 tàu tuần dương, 1 tàu Zebec, 3 tàu tuần dương hạng nhẹ và 1 tàu buồm hai cột, tổng cộng 372 khẩu pháo.

Do sự chênh lệch lớn về số lượng và sức mạnh hỏa lực giữa hai bên, NaBì Nhĩ buộc phải tận dụng ưu thế về tính linh hoạt của các tàu chiến dưới quyền mình, dẫn đội tàu phe Độc tài đi vòng qua biển trong hai ngày. Sau hai ngày di chuyển linh hoạt, đội tàu của NaBì Nhĩ đã có thể sắp xếp đội hình một cách thuận lợi.

Vì sự chênh lệch về hỏa lực quá lớn, NaBì Nhĩ biết rằng muốn giành chiến thắng, ông chỉ có thể tận dụng lợi thế về việc đa số thủy thủ trong đội tàu phe T

Sau nhiều giờ giao tranh ác liệt, cuối cùng Bì Nhĩ đã phải trả giá bằng cái chết của ba vị đô đốc và hơn 30 thủy thủ, cùng hơn 60 người khác bị thương; tuy nhiên, ông ta cũng đã tiêu diệt hoặc làm bị thương hơn 300 binh sĩ phe độc tài, đồng thời thành công trong việc chiếm giữ bốn tàu chiến, một tàu hộ tống và một tàu hộ tống nhẹ. Nhận thấy tình hình không thuận lợi, phần còn lại của hạm đội phe độc tài buộc phải bỏ chạy về Lisbon và đảo Madeira.

Những kết quả chiến đấu ấn tượng này khiến Chính phủ Pháp, vốn mới tuyên bố ủng hộ phe độc tài Bồ Đào Nha, vô cùng tức giận và đã đưa ra lời phản đối nghiêm khắc đối với Chính phủ Anh.

Tuy nhiên, chiến thắng của Bì Nhĩ lại khiến Vua William IV của Anh rất không hài lòng. Người vua này từng có mâu thuẫn với Bì Nhĩ trong thời gian ông phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Anh; vì vậy, để không cho Pháp tìm cớ buộc Anh can thiệp vào nội chiến Bồ Đào Nha, đồng thời cũng để xoa dịu vua và giúp ông ổn định tâm trạng, Bộ Hải quân đã quyết định loại tên Bì Nhĩ khỏi danh sách các sĩ quan của Hải quân Hoàng gia.

Dù đã bị loại tên, nhưng hiện nay, mỗi khi ai đó nhắc đến Bì Nhĩ trong Hải quân Hoàng gia, mọi người đều ngưỡng mộ ông. Các tờ báo như “The Times” thậm chí còn coi những chiến công của Bì Nhĩ ở Bồ Đào Nha là niềm tự hào của Hải quân Hoàng gia.

Vị thế của Bì Nhĩ trong hàng ngũ Phe Tự Do Bồ Đào Nha cũng ngày càng vững chắc. Sau chiến thắng tại trận Chiến Cape of Saint Vincent, ông được phong làm Đô đốc Hải quân Bồ Đào Nha và Tổng chỉ huy Hải quân Bồ Đào Nha. Vào tháng 9 sau đó, Bì Nhĩ còn chỉ huy quân đội Phe Tự Do bảo vệ thành công Lisbon, được trao tặng huân chương cao quý nhất của Bồ Đào Nha – Huân chương Kim Thanh và Kiếm, đồng thời được phong làm Bá tước Cape of Saint Vincent.

Đây thực sự là một truyền thống của Hải quân Hoàng gia: những sĩ quan hải quân vốn không được ưa chuộng ở quê hương nhưng lại tỏa sáng ở nước ngoài, và không ngờ lại trở thành Tổng chỉ huy hải quân của một quốc gia khác.

Bì Nhĩ là Tổng chỉ huy Hải quân Bồ Đào Nha; Đào Mã từng làm Tổng chỉ huy Hải quân Chile, Peru và Brazil; Thị Smith từng làm Tổng chỉ huy Hải quân Thụy Điển. Ngoài ra, còn rất nhiều sĩ quan hải quân khác, dù không trở thành Tổng chỉ huy hải quân nhưng vẫn giữ các chức vụ quan trọng trong các hạm đội nước ngoài, chẳng hạn như Kiều Trị và Henry Purves, những người đã chỉ huy quân đội Colombia và Chile trong Cuộc chiến giành độc lập của Mỹ Latinh.

Mặc dù Eldard luôn than phiền rằng Bộ Hải quân không đáng tin cậy, nhưng ít nhất theo tình hình hi

Hơn nữa, những người này không chỉ giỏi chiến đấu trên biển; nếu bạn sẵn lòng trả thêm tiền, họ cũng có thể tham gia vào các trận chiến trên bộ. Hãy nhìn vào Napoléon xem, ông ấy vừa mới bảo vệ thành công Lisbon mà.

Arthur vừa lật xem các tài liệu chi tiết về cuộc chiến của Bồ Đào Nha, vừa lắng nghe báo cáo từ thư ký.

“Mặc dù cuộc nội chiến ở Bồ Đào Nha vẫn chưa hoàn toàn kết thúc, nhưng tình hình đã gần như ổn định rồi. Hạm đội của phe độc tài sau khi thất bại thảm hại trong trận chiến tại Mũi São Vicente đã suy yếu nghiêm trọng, và quân đội của họ cũng liên tục bị đánh bại. Hơn nữa, Hoàng đế Pedro của Brazil đã tăng cường việc hỗ trợ Phe Tự Do ở Bồ Đào Nha để ủng hộ con gái mình. Đại sứ quán ở Lisbon báo cáo rằng: Général Napoléon hiện đang tích cực tuyển mộ các cựu binh thuộc Hải quân Hoàng gia từ các tàu buôn ở bán đảo Iberia. Dựa vào những diễn biến gần đây của quân đội Phe Tự Do, đại sứ quán cho rằng họ rất có thể sẽ tiến hành tấn công các khu vực phía nam sông Minho và sông Douro trong thời gian tới. Nếu họ thành công ở những khu vực đó, thì cuộc nội chiến ở Bồ Đào Nha sẽ chính thức kết thúc.”

“Hmm…” Arthur nhéo cằm và nói: “Có vẻ như Général Napoléon đang rất thành công gần đây! Mặc dù các công tước ở Bồ Đào Nha không quan trọng bằng những người ở Anh, nhưng hiện tại ông ấy gần như là người nắm quyền lực thực sự trong Hải quân Bồ Đào Nha; điều này chắc chắn tốt hơn nhiều so với việc phải ở lại Bộ Hải quân và chịu đựng sự khinh thường.”

“Đúng vậy,” Blackwell cười nói: “Nếu tôi ở vị trí của ông ấy, tôi sẽ không quay trở lại đâu. Ai mà không biết rằng Quốc vương không ưa ông ấy, trong khi Hoàng đế Pedro của Brazil lại coi ông ấy như một đồng minh đáng tin cậy nhất. Vua gái vẫn chưa đủ tuổi trưởng thành, mọi việc đều do cha cô ấy kiểm soát. Nếu Général Napoléon tiếp tục ở lại Bồ Đào Nha, không chỉ là được phong làm công tước, mà có thể còn được phong làm thủ tướng nữa đấy.”

Arthur lẩm bẩm: “Miễn là ông ấy đừng giống như Général Kirkland… Nếu không phải vì tính cách quá khó chịu của mình, thì vị trí của Kirkland ở các quốc gia Nam Mỹ thật sự là không thể tưởng tượng nổi. Chỉ riêng ông ấy đã là người có công trong việc thành lập ba quốc gia: Chile, Peru và Brazil, nhưng tính cách của ông ấy quá bướng bỉnh, khiến cho Saint Martin của Chile, Bolívar của Peru và Pedro của Brazil đều không ưa ông ấy. Tuy nhiên, tính cách khó chịu như vậy dường như là điểm chung của những người tài năng… Dù bạn có không ưa ông ấy đi nữa, bạn cũng không thể làm gì được, bởi vì bạn vẫn cần ô

Talleyrand cũng đã truyền đạt thông tin này cho Bộ Ngoại giao; có vẻ như người Pháp có ý định đạt được sự hòa giải với chúng ta thông qua cuộc nội chiến ở Bồ Đào Nha, và trong quá trình đó, họ cũng muốn kéo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào để ký một hiệp ước liên minh.”

“Hiệp ước liên minh?” Arthur suy nghĩ một lát rồi hỏi: “Để đối phó với Liên minh Thánh chống lại Phổ, Áo và Nga?”

Blackwell gật đầu nhẹ: “Không ai nói ra điều đó một cách công khai, nhưng thực tế là như vậy. Những hành động của Nga trong những năm gần đây ở Cáucaso, Trung Á và Ô-xơ-man Đế-quốc thực sự quá hung hăng; đặc biệt là việc họ ép buộc Ô-xơ-man ký kết bản hiệp ước bí mật, định đưa eo biển Bosporus vào tầm kiểm soát của mình. Người Pháp từ lâu đã không hài lòng với điều này, bởi vì họ có những lợi ích truyền thống ở Địa Trung Hải. Còn phía chúng ta thì, vào thời điểm đó, nước ta đang gặp phải những cuộc cải cách quốc hội, sau đó lại xảy ra cuộc nội chiến ở Bồ Đào Nha, nên chúng ta đã bỏ qua vấn đề này. Bây giờ, khi Viscount Palmerston tỉnh táo trở lại, ông ấy mới nhận ra mình đã mắc phải sai lầm lớn. Và bạn có biết về chuyện của Đại sứ tại Constantinople, Sir David Erhardt không?”

“David Erhardt?” Arthur nhớ lại cái tên đó: “Tôi chắc là không quen biết người này. À, liệu anh ta có làm gì đó không đúng mực với Bộ trưởng Ngoại giao của chúng ta không?”

Blackwell kể cho Arthur nghe những thông tin mà mình đã tìm hiểu được: “Làm thế nào để nói với bạn đây? Sir David Erhardt có thể coi là một người kỳ lạ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oxford, ông ấy đúng lúc diễn ra Cuộc chiến tranh giành độc lập của Hy Lạp. Được truyền cảm hứng bởi Byron, Shelley và những người khác, ông ấy đã đến Athens tham gia lực lượng tình nguyện Anh ủng hộ độc lập của Hy Lạp. Nhưng không biết trong chiến tranh đã xảy ra chuyện gì; có lẽ là do người Hy Lạp đã làm điều gì đó khiến ông ấy thất vọng, đến nỗi ông ấy không chỉ không còn ủng hộ độc lập của Hy Lạp nữa, mà còn bắt đầu cảm thông với người Thổ Nhĩ Kỳ – chủ nhân của Hy Lạp – và càng ghét bỏ Nga, kẻ thù số một của người Thổ Nhĩ Kỳ.

Sau khi trở về từ Hy Lạp, Sir David Erhardt đã gia nhập Bộ Ngoại giao và tự nguyện xin được đi thực hiện các nhiệm vụ ngoại giao ở khu vực Trung Đông. Sau vài năm làm việc ở đó, ông ấy được chuyển đến đại sứ quán tại Constantinople với vai trò là thư ký cấp cao, và năm nay ông ấy đã được thăng chức thành đại sứ. Ban đầu, trong bản hiệp ước bí mật giữa Nga và Ô-xơ-man Đế-quốc, các điều khoản liên quan đến eo biển Bosporus được coi là bí mật và không được ghi chép công khai. Đại sứ quán tại Constantinople cũng

1/1 0%