lore

Chương 1138: Tầng lớp mới giàu chủ nghĩa chuyên quyền ở Châu Âu

14,019 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Arthur nhẹ nhàng cúi người xuống, đặt tay phải lên phía dưới huy chương Thánh Anna trên ngực trái mình, rồi đáp lại bằng tiếng Đức chuẩn mực: “Thưa Hoàng đế, đã mười năm trôi qua rồi. Có vẻ như trí nhớ của Ngài còn đáng tin cậy hơn cả các đường dây điện báo của chúng ta.”

Nghe vậy, Nicholas I bật cười ha hả; không biết có phải buổi duyệt hạm hôm nay phù hợp với sở thích của ông hay không, nhưng ít ra vẻ mặt của Sa hoàng dường như rất vui vẻ.

Xét từ một góc độ nào đó, người như Nicholas I thì ngay từ cái nhìn đầu tiên đã có thể thấy được sự phi thường của ông. Chiều cao 190 cm khiến ông trở nên nổi bật giữa mọi người trong thời đại này; dù đứng ở đâu, ông cũng luôn toát lên vẻ của một nhà lãnh đạo.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Arthur, vẻ ngoài ấn tượng của Nicholas I cũng giống như hình ảnh “cường quốc siêu cấp” mà Nga đang cố gắng xây dựng – miễn là ông không nói gì thì còn ok, nhưng mỗi khi lên tiếng, người ta lại không khỏi cảm thấy rằng “bên ngoài lấp lánh, bên trong lại hỏng hóc”.

Cách nói chuyện của vị Sa hoàng này thực sự quá thẳng thắn; nếu xét từ góc độ kết bạn, ông ấy hoàn toàn có thể trở thành một người bạn tốt. Nhưng nếu xét từ vị trí của một nguyên thủ quốc gia, việc không biết cách ăn nói khéo léo và hai mặt thì thật sự rất khó để thực hiện công việc ngoại giao một cách hiệu quả.

Có lẽ vì chính Sa hoàng cũng nhận thức được những thiếu sót của mình, hoặc có lẽ vì ông nhớ rằng mình đang ở Anh – quốc gia mà truyền thông đang phát triển mạnh mẽ nhất – nên Nicholas I đã kiềm chế mong muốn nói chuyện sâu hơn với Arthur.

“Hy vọng sẽ gặp lại ngài tại buổi khiêu vũ cung đình vào ngày mai, Ngài Arthur.”

“Như ý Ngài muốn, Thưa Hoàng đế.”

Vừa mới rời đi, người đứng sau lưng Arthur là Elders liền lên tiếng: “Người đó chính là Nicholas I sao? Kẻ độc tài của toàn Nga ư?”

“Còn ai khác được nữa?” Arthur liếc nhìn Elders đang đứng sau lưng mình, rồi kéo anh ta ra phía trước: “Làm sao toàn Nga có thể chứa đựng thêm một kẻ độc tài nữa được chứ?”

“Trời ơi, ông ấy thật sự cao lớn!” Elders thốt lên kinh ngạc: “Tôi từng nghĩ rằng các hoàng đế đều có chiều cao như Napoleon mà.”

Arthur không đáp lại gì; so với việc trò chuyện với Elders, ông thà dành thời gian rảnh để suy nghĩ về cách đối phó với đoàn đại sứ Nga trong những ngày tới.

Nhưng đối với Elders, người lần đầu tiên tham gia một sự kiện ngoại giao quy mô lớn như vậy, mọi thứ đều mới mẻ đối với anh ta; đặc biệt là khi đối diện với vị lãnh đạo đã từ xa xôi đến từ đất đai

Elder nhẹ nhàng đẩy khuỷu tay vào người Arthur và hỏi: “Tại sao những người đi theo Sa hoàng đều là sĩ quan vậy? Người Nga có sở thích đặc biệt gì về điểm này không?”

  “Có thể coi là vậy,” Arthur trả lời một cách đã quen với chuyện này: “Ở Nga, đặc biệt là dưới sự cai trị của Hoàng đế Nicholas, các sĩ quan luôn được ưu ái hơn. Khoảng 60% trong số các bộ trưởng Nga đều xuất thân từ hệ thống quân đội.”

  Nghe vậy, Elder bỗng nhiên cảm thấy thiện cảm hơn đối với vị Hoàng đế Nga mà mình mới gặp lần đầu: “Nếu như chúng ta ở Nga, có lẽ chúng ta cũng sẽ được trọng dụng hơn hiện tại.”

  “Ha!” Mặc dù Arthur không muốn chế giễu ý tưởng viển vông của Elder, nhưng anh vẫn phải nói ra sự thật khắc nghiệt: “Elder, 60% những người đó xuất thân từ hệ thống quân đội mà tôi nói đến không phải là các quan chức hành chính, mà là các tướng lĩnh cấp cao từng tham gia chiến tranh. Với trình độ học vấn của chúng ta, điều đó chưa chắc đã là lợi thế ở Nga đâu.”

  “ Sao vậy? Sa hoàng không thích sinh viên Đại học London à?”

  “À, không phải vậy đâu,” Arthur nói một cách bình thản: “Sa hoàng chỉ đối xử bình đẳng với tất cả sinh viên mà thôi. Trong số các bộ trưởng Nga, số người từng học đại học thực sự rất ít. Còn việc bạn tốt nghiệp trường đại học nào thì lại không quan trọng lắm.”

  Về điểm này, Arthur không hề nói dối Elder.

  Mặc dù Sa hoàng luôn kỳ vọng rằng Đại học Moscow sẽ đào tạo ra những nhân tài trung thành với đất nước, nhưng thật không may, dù là tại Đại học Moscow hay các trường đại học khác ở Nga, những vụ án chính trị vẫn liên tục xảy ra.

  Do đó, theo diễn biến hiện tại, bằng đại học thực sự không phải là yếu tố giúp người ta có được vị trí cao trong chính quyền Nga. Bởi vì Sa hoàng và các quan chức cấp cao của ông ấy đều cho rằng những người từng được giáo dục theo hệ thống đại học thường có xu hướng ủng hộ chủ nghĩa tự do.

  Sinh viên đại học có thể đóng vai trò là những chuyên gia kỹ thuật, phục vụ đất nước Nga với tư cách là kỹ sư, nhà khoa học… nhưng để họ tiến vào các vị trí cao trong chính phủ ư? Không, điều đó thực sự quá mạo hiểm.

  Tuy nhiên, mặc dù Nicholas I luôn cảnh giác trước sự xâm nhập của tư tưởng tự do từ Tây Âu, nhưng mặt khác, ông ấy lại rất mong muốn Nga có thể sản sinh ra những nhân tài giáo dục cao có kiến thức khoa học kỹ thuật từ Tây Âu.

  Như câu ngạn ngữ thường nói: Bạn không thể vừa tuân theo quan điểm của phe Slav, cố gắng loại bỏ

Và để có được đủ nguồn lực khoa học kỹ thuật mà vẫn không làm suy yếu việc kiểm soát giáo dục, Nicholas I thực sự chỉ có một con đường duy nhất để đi. Đó chính là tiếp tục theo truyền thống cũ của Nga, tích cực thu hút những nhân tài có trình độ cao từ nước ngoài và để họ đảm nhận vai trò chủ đạo trong quá trình hiện đại hóa công nghiệp Nga.

Tại triều đình Nga, người nước ngoài chiếm tới 22% các vị trí cấp cao trong chính phủ; còn tại tuyến đầu của công cuộc xây dựng công nghiệp, rất ít kỹ sư người Nga tham gia vào việc thiết kế các dự án lớn. Chỉ cần lấy ngành đường sắt Nga làm ví dụ: tuyến đường sắt khách hàng đầu tiên của Nga được xây dựng bởi kỹ sư người Đức Franz von Gasteiner, còn tuyến đường sắt Saint Petersburg – Moscow vừa được công bố gần đây thì sẽ do kỹ sư người Mỹ Kiều Trị · Whistler đứng đầu trong việc thiết kế và xây dựng.

Do đó, có lẽ đối với người Nga, việc cho phép Arthur Hastings của Công ty Điện báo Electromagnetic Anh đảm nhận công việc thiết lập hệ thống đường sắt điện báo cũng không phải là vấn đề gì lớn. Dù rằng người Anh này đã từng đã từng phản đối chính sách của Sa hoàng, nhưng người phản đối Sa hoàng còn nhiều lắm; Alexander von Humboldt, người đã vẽ bản đồ địa lý cho Nga, cũng từng công khai chỉ trích hệ thống giáo dục cao đẳng của Nga mà thôi.

khoa học gia Ừm, ở Nga, người nước ngoài thường được hưởng một số đặc quyền nhất định. Huống chi ông ta còn là người nước ngoài nữa. Chỉ cần Arthur ngừng những lời chỉ trích của mình và bắt đầu khen ngợi những thành tựu mà Nga đã đạt được trong những năm gần đây, thì người Nga chắc chắn sẵn lòng thể hiện thái độ cởi mở và khoan dung của mình. Tất nhiên, Arthur không ngu đến mức tin rằng Sa hoàng thực sự có lòng khoan dung đến thế. Việc người Nga sẵn lòng hợp tác với Công ty Điện báo Electromagnetic Anh không phải là do ai ban tặng, mà là bởi vì năng lực kỹ thuật vượt trội của họ. Như mọi người đều biết, trên phạm vi toàn thế giới, ngành công nghiệp điện báo phát triển mạnh nhất chính là ở Anh. Mặc dù ở Anh không chỉ có Công ty Điện báo Electromagnetic mà còn nhiều công ty khác, nhưng người Nga vẫn có thể chọn hợp tác với các công ty đó thay vì với họ.

Nhưng nếu những công ty nhỏ này dám làm như vậy, thì liên minh ngành bưu điện Anh do Công ty Bưu điện Điện từ Anh lãnh đạo chắc chắn sẽ khiến họ phải gánh chịu hậu quả nặng nề.

Vì con đường của Anh không thể đi được, nên Nga muốn phát triển ngành công nghiệp bưu điện chỉ có thể tìm cách hợp tác với Pháp thôi.

Nhưng……

Không chỉ kỹ thuật của người Pháp kém hơn Anh, mà mối quan hệ ngoại giao giữa chính phủ Pháp và Nga cũng đã xuống mức tồi tệ nhất; Lưu Ý ·Philip và Nikolai I đều ghét bỏ nhau, “Công dân số một của nước Pháp” và “nhà độc tài của toàn Nga” đều không muốn tiếp xúc với nhau.

Dù Lưu Ý ·Philip có muốn tha thứ cho Nikolai I hay không, ngay cả khi ông ta sẵn lòng bỏ qua những sự xúc phạm từ người Nga, Nikolai I cũng không muốn hòa giải với họ.

Bởi vì nếu Nikolai I có thể hòa giải với Pháp, tại sao ông ấy lại không tha thứ cho Arthur Hastings ở Cáucaso chứ? Những việc Arthur đã làm ở đó, nói ra thì cũng chỉ là vận chuyển một con tàu đầy vật tư đến Cáucaso mà thôi.

Còn Lưu Ý ·Philip thì sao? Không chỉ công khai ủng hộ chủ nghĩa tự do, mà với tư cách là một vị vua, ông ta còn không biết xấu hổ khi tự xưng là “Công dân số một của nước Pháp”!

Đối với Nikolai I, mặc dù ông ta ghét bỏ những người theo chủ nghĩa tự do, nhưng những kẻ này cũng được phân loại thành các cấp độ khác nhau. Đối với những trí thức theo chủ nghĩa tự do, như Phù Xí Chinh, mặc dù Nikolai không thích họ, ít nhất ông ta vẫn còn có thể hiểu được suy nghĩ của họ.

Vì vậy, xét đến ảnh hưởng xã hội và tài năng của Phù Xí Chinh, Nikolai chỉ kiểm soát chặt chẽ và giám sát họ một cách nghiêm ngặt, nhưng vẫn đối xử tử tế với họ trong cuộc sống hàng ngày.

Còn đối với những người thuộc tầng lớp lao động theo chủ nghĩa tự do, Sa hoàng thậm chí còn không buồn để tâm đến họ; những người này thường không phải là đối tượng mà ông ta tự mình can thiệp. Cơ quan Thứ ba và cảnh sát địa phương sẽ dạy họ “điều gì là lợi ích của chủ nghĩa độc tài”.

Và trong số tất cả những người theo chủ nghĩa tự do, những kẻ tồi tệ nhất chính là những quý tộc ủng hộ chủ nghĩa tự do – những kẻ đã hưởng lợi từ chủ nghĩa độc tài, nhưng sau đó lại dùng lá cờ chủ nghĩa tự do để tự cao tự đại về đạo đức của mình.

Đối với những người như vậy, Nikolai cho rằng cần phải giết sạch những kẻ đó, đày đi tất cả những ai thuộc nhóm này. Rõ ràng, Lưu Ý · Philip chính là một quý tộc ủng hộ chủ nghĩa tự do trong mắt Nikolai, và thậm chí còn là người lãnh đạo của tầng lớp quý tộc nữa! Vì vậy, khi Công tước Orléans Lưu Ý · Philip được đăng quang làm Vua Pháp quốc quốc Philippe I vào cuộc Cách mạng Tháng Bảy năm 1830, tình bạn cá nhân kéo dài mười lăm năm giữa ông ta và Nikolai I thực tế đã chấm dứt. Nikolai I coi đó là hành động phản bội không thể tha thứ được, và tin rằng người bạn của mình đã đầu hàng trước mặt tối tăm của cuộc cách mạng và chủ nghĩa tự do. Mặc dù đã qua hơn mười năm, cho đến tận bây giờ, Nikolai I vẫn không muốn nhắc đến tên Lưu Ý · Philip; dường như chỉ cần nghe đến cái tên đó thôi là miệng ông ta cũng bị ô uế. Ngay cả khi buộc phải đề cập đến Lưu Ý · Philip, ông ta cũng chỉ gọi người cai trị nước Pháp này là “kẻ chiếm ngai vàng”. Có lẽ, trong mắt Sa hoàng, việc không thốt lên câu “Ngươi đã phản bội tầng lớp quý tộc… Đồ khốn nạn!” trước mặt Lưu Ý · Philip đã là một biểu hiện của sự kiềm chế lớn lao rồi. Còn đối với những người trẻ tuổi như Arthur Hastings – những người xuất thân từ tầng lớp thấp kém – thái độ của Sa hoàng lại khoan dung hơn nhiều. Trước hết, vì Arthur không phải là quý tộc mà thuộc về “tầng lớp bị trị vì”; trong một xã hội như Anh, nơi thiếu sự hướng dẫn tư tưởng đúng đắn, thật dễ dàng để họ đi theo con đường sai lầm, và điều này không thể trách họ được. Thứ hai, vì người trẻ này lâu nay sống trong tầng lớp xã hội thấp kém, nên họ có những hạn chế riêng và không hiểu được tầm quan trọng của vai trò mà tầng lớp quý tộc đóng trong việc dẫn dắt xu hướng xã hội; điều này cũng không thể trách họ được. Cuối cùng, trong báo cáo được gửi về từ đại sứ quán Nga tại Anh, Sa hoàng rất vui mừng khi thấy Arthur Hastings đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình sụp đổ của Đảng Whig, và cho rằng sau nhiều năm rèn luyện, người trẻ này cuối cùng cũng đã nhận ra những chân lý chung của thế giới này. So với Lưu Ý · Philip – kẻ phản bội lớn của tầng lớp quý tộc – Sa hoàng cho rằng cần phải cho những người trẻ như Arthur Hastings, những người sắp bước vào tầng lớp thượng lưu và có khả năng đóng góp cho sự nghiệp chủ nghĩa độc tài trên thế giới, một cơ hội.

Trong lúc Arthur vẫn chưa định ra quyết định nào, bỗng nhiên 21 tiếng pháo hoàng gia vang lên đồng loạt. Anh quay đầu nhìn ra biển, thấy các hạm đội ở phía trước và phía sau đã tập trung đầy đủ. Các lá cờ tín hiệu được giương cao, và dưới sự bảo vệ của hàng ngàn chiếc du thuyền và tàu hơi nước, các hạm đội di chuyển thành hai hàng song song ra khơi. Hàng ngàn người dân từ những ngon đồi ở Calver Cliffs và đảo White đều nhìn xuống, theo dõi đoàn quân hùng vĩ này tiến vào Eo biển Anh. Rõ ràng họ hy vọng có thể ngắm nhìn trận chiến từ những điểm cao này, nhưng thật không may, khi cuộc chiến bắt đầu, đảo White gần như đã biến mất khỏi tầm nhìn của Arthur. Bởi vì dù đảo chỉ cách đó không xa, nhưng làn gió đông liên tục thổi đã che khuất làn khói súng pháo giữa khán giả và các hạm đội; chỉ những người trên tàu mới có thể chứng kiến toàn bộ diễn biến của trận chiến. Vài dặm dưới đèn hải đăng Nab, khi con tàu Saint Vincent giương cao lá cờ tín hiệu, các hạm đội nhanh chóng xếp thành đội hình ngang, các tàu được sắp xếp cách nhau theo khoảng cách chuỗi để tiến lên phía trước. Khi đội tàu hơi nước di chuyển theo đội hình này, ba chiếc thiết giáp hạm đã đợi sẵn ở ngoài khơi dần hiện rõ hơn. Chẳng mấy chốc, tiếng hô của binh sĩ truyền tin vang lên: “Phát hiện ba con tàu lạ ở hướng đông nam.” Vị tướng già Codlington đứng trên boong tàu, bộ đồ màu đỏ thẫm của ông bay phấp phới trong gió biển; ông vẫy nhẹ đôi găng tay trắng, và con tàu “Nữ hoàng” phát ra tín hiệu: “Tất cả, tập trung về hướng tây nam.” Ngay lập tức, tiếng trống chiến trên tàu vang lên, các cái võng được thu lại khỏi thành tàu, các ổ súng đều được mở ra, và các tàu xếp thành hàng chiến đối diện với “kẻ thù tưởng tượng”, đồng thời phát ra tín hiệu thách thức. Arthur nhìn qua kính viễn vọng, thấy lá cờ của Thiếu tướng Thomas Corcoran đang phất phới trên tháp pháo sau con tàu “Regent”; rõ ràng, con tàu này đang dẫn đầu đội hình với toàn bộ buồm được căng ra. Tiếp theo là con tàu “Nữ hoàng” và “Albion”, còn “Barakuda”, “Amphion” và “Vulture” thì đi theo hai bên, hỗ trợ đội hình. Con tàu “Regent” đã bắn hai phát khi tiến gần, đó là để kiểm tra tầm bắn. Khi các con tàu địch vào tầm bắn, chúng nhanh chóng bắn trả bằng đại bác bên mạn. Tiếng súng vang dội từ con tàu này sang con tàu khác, lan truyền dọc theo toàn bộ đội hình chiến đấu, với sức mạnh và tốc độ đáng kinh ngạc. Gió biển mát mẻ thổi những làn khói dày đặc xuống phía hạ lưu, cho phép những người đang xem từ xa có thể ngắm nhìn trọn vẹn cảnh tượng

1/1 0%