lore

Chương 88: Quán bia của Martin

7,170 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sau khi nghe ông Mã Đinh giải thích, Arthur cuối cùng cũng hiểu rõ xem nhóm người ở Cambridge mà ông ấy đang nói đến thực sự là gì.

Như mọi người đều biết, ý thức gia đình của người Anh so với các quốc gia châu Âu lục địa khá yếu ớt. Khi trẻ em lên khoảng bảy tám tuổi, các gia đình nghèo thường tìm mọi cách để gửi chúng đi học nghề trong các xưởng hay cửa hàng trong vòng bảy tám năm; còn các gia đình giàu có hoặc trung lưu thì lại suy nghĩ đến việc gửi con cái vào các trường nội trú hoặc đến nhà người thân có kỹ năng để học một nghề nào đó.

Để bù đắp cho sự thiếu vắng sự hỗ trợ từ gia đình, người Anh đã phát triển truyền thống tự nguyện kết nối và giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng. Có thể một người Anh trong một tháng cũng không hề gặp cha mẹ một lần nào, nhưng chắc chắn họ sẽ tham gia vào các hoạt động của các tổ chức này mỗi tuần.

Phạm vi hoạt động của các tổ chức này rất rộng lớn, bao gồm các lĩnh vực tôn giáo, học tập, kinh tế, nghề nghiệp và giải trí – chúng bao phủ hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống người Anh.

Còn nhóm người được gọi là “Cambridge” thì chính là một nhóm thanh niên tự nguyện tụ tập lại với nhau để thực hiện các hành vi phạm tội; tên chính thức của họ là “Anh em nhỏ Cambridge”.

Theo lời kể của ông Mã Đinh, hầu hết những người này đều xuất thân từ cùng một khu phố và đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động phạm tội từ khi còn rất nhỏ.

Ban đầu, họ chỉ thực hiện những hành vi trộm cắp nhỏ lẻ, nhưng gần đây họ đã chuyển sang thực hiện các hành vi lừa đảo có tổ chức, cụ thể là trộm cắp tại các cửa hàng.

Đôi khi, họ cũng đi lang thang ở khu West End giàu có của London và nhận tiền thù lao để tìm lại những thú cưng bị mất của người dân giàu có. Tất nhiên, trong nhiều trường hợp, những thú cưng bị mất đó thực ra chính là do họ trộm cắp.

Dù sao đi nữa, nếu bạn muốn tìm kiếm thứ gì đó hoặc tìm người, miễn là tiền thù lao đủ lớn, những thanh niên này luôn sẵn lòng tìm cách giúp bạn.

Sau khi nói xong những điều này, ông Mã Đinh liền nói một cách nịnh hót: “À… Đội trưởng Hastings, về vấn đề quán rượu mà tôi đã hỏi ông lần trước, liệu ông có thể giúp tôi liên lạc được không?”

Arthur đóng cuốn sổ ghi chép đầy thông tin lại và nói: “Rất tiếc, ông Mã Đinh, ông không may mắn lắm. Ý tưởng mở một quán rượu của ông thật sự rất tích cực.

Nhưng thật không may, giấy phép kinh doanh quán rượu hiện nay không còn do thẩm phán an ninh cấp nữa; dù tôi có giúp ông liên lạc đi nữa cũng vô ích thôi.”

Ông có biết đến Đạo

Nhưng đồng thời, bạn cũng rất may mắn, bởi vì theo “Đạo luật Bia”, chỉ cần bạn nộp khoản thuế phép 2 bảng 2 shilling mỗi năm, bạn sẽ được cấp giấy phép bán bia từ cơ quan thuế vụ.

Tuy nhiên, giấy phép này chỉ áp dụng cho việc bán bia mà thôi. Nếu chúng tôi phát hiện ra bạn đang bán các loại rượu mạnh khác như rượu Sherry hay rượu Polly trong cửa hàng của mình, chúng tôi sẽ phạt bạn 20 bảng.

Tất nhiên, nếu bạn bán các loại rượu nhẹ như rượu táo hoặc rượu lê, thì không cần xin thêm giấy phép gì cả.

Ngoài ra, tôi rất vui mừng được thông báo với bạn rằng tất cả các loại thuế liên quan đến bia và rượu táo sẽ được hủy bỏ ngay từ ngày “Đạo luật Bia” được ban hành.”

Nghe xong lời của Arthur, Mã Đinh trước tiên cảm thấy thất vọng, sau đó lại vô cùng vui mừng:

“Lạy Chúa! Còn có chuyện tốt như thế này sao? Thưa ông cảnh sát, ông đang đùa với tôi phải không?”

Arthur cầm cuốn sổ vào lòng và nói: “Bạn nên cảm ơn những người hàng ngày xuống đường biểu tình đấy. Nếu không có họ, Công tước Wellington sẽ không bao giờ đưa ra “Đạo luật Bia” này đâu.

Để buộc những người biểu tình đó trở về nhà, lần này nội các đã phải đối đầu trực tiếp với các thẩm phán an ninh, và thậm chí còn thu hồi quyền cấp giấy phép bán bia từ tay họ nữa.

Có lẽ bạn không biết rằng khi dự luật được thông qua ba lần tại Hạ viện, Công tước Wellington đã vui mừng đến mức nào; ông ấy nói rằng “sự thành công của dự luật là một chiến thắng lớn hơn cả trận chiến Waterloo”.

Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhắc bạn rằng, tôi nghe nói những nhà buôn rượu và chủ các quán rượu lớn khá không hài lòng với “Đạo luật Bia” này, bởi vì họ không muốn những người như bạn tham gia vào thị trường bia.

Nếu nội các của Công tước Wellington bị đổ bể, “Đạo luật Bia” có thể sẽ được sửa đổi lại. Vì vậy, nếu bạn dự định mở quán rượu, hãy nhanh chóng đi xin giấy phép đi.”

Nghe vậy, Mã Đinh vội vàng che trán và kêu lên: “Ôi trời! Thật là cảm ơn ông đã nhắc nhở tôi! Tôi sẽ lập tức đi xin giấy phép ngay!”

“Khoan đã!” Arthur thấy anh ta định ra cửa, liền gọi lại.

Mã Đinh quay đầu lại hỏi: “Còn điều gì nữa không ạ?”

Arthur tiến lại gần và vỗ vai anh ta: “Dù bạn muốn mở quán rượu thì cũng được, nhưng vì thuế bia đã bị hủy bỏ rồi, ít nhất bạn cũng đừng trộn các chất độc hại như chlorua canxi hay lá cây bitterwood vào bia để bán nữa. Những thứ đó rất nguy hiểm; chỉ cần thêm một chút nước cốt chanh để tăng hương vị là đủ rồi.”

**“**

Khi nghe đến đây, Mã Đinh không khỏi gãi đầu cười nói: “Thật là vậy, nếu tôi mở quán rượu, chắc chắn sẽ kinh doanh một cách chính trực.”

Arthur nhìn thấy ánh mắt lừa đảo trong mắt gã già này, liền thở dài và nói: “Được thôi, tôi tin bạn.”

Nói xong, anh ta vẫy tay gọi Đào Mã và Tony đứng phía sau, chuẩn bị cùng họ đi đến địa chỉ mà Mã Đinh đã cung cấp.

Nhưng chưa kịp ra cửa, lần này lại là ông Mã Đinh gọi họ lại.

“Cảnh sát trưởng Hastings!”

Arthur nhướng mày hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

Mã Đinh do dự một lúc lâu, mới e ngại mở miệng nói: “Nếu ông định đi tìm họ, tốt nhất nên mang theo súng. Tôi nghe nói họ có vẻ có liên quan đến Fred. Và ông cũng biết đấy, những người đó đều là thanh niên… tính cách của họ thường… không mấy ổn định…”

……

Khu Whitechapel, số 75 Con hẻm Gạch, Văn phòng Thám tử Tư Hắc Chiếc.

Một người đàn ông đội mũ rộng và mặc áo khoác đen bất ngờ xông vào cửa chính.

Anh ta đến quầy tiếp tân, gõ nhẹ vào mặt bàn, làm cho người đàn ông mập mạp đang ngủ gục trên ghế làm việc bừng tỉnh.

Người đàn ông đó hỏi bằng giọng trầm: “Ông chủ các bạn có ở đây không?”

Người đàn ông mập mạp chớp mắt, ngước nhìn khách hàng và hỏi: “Mày là ai vậy? Có giới thiệu không? Chúng tôi thường chỉ làm ăn với khách quen thôi.”

Nghe vậy, người đàn ông kia nắm chặt tay thành nắm đấm, đập mạnh xuống mặt bàn.

Chiếc mũ rộng rơi xuống đất, lộ ra khuôn mặt thật của anh ta.

Anh ta lấy khẩu súng lục ra từ túi áo, đe dọa người đàn ông mập mạp: “Tôi hỏi lại lần nữa, ông chủ các bạn, cái đồ ngu Fred kia, có ở đây không?!”

Người đàn ông mập mạp hoảng sợ, vội vàng giơ hai tay lên cao.

Đúng lúc tình hình trở nên căng thẳng, tiếng bước chân nặng nề vang lên từ cầu thang lên tầng hai.

“Ồ! Không phải là cảnh sát trưởng Bradley Jones sao? Lần trước vì bắt mấy kẻ ăn xác, dám rút súng trước mặt tôi, lần này lại mang theo súng nữa… Chắc hẳn là muốn tìm cho tôi một công việc hay đấy phải không?”

Vừa nói xong, Jones cảm thấy cửa văn phòng thám tử bị đóng sầm lại, ngay sau đó, vài khẩu súng được đặt lên đầu anh ta.

Fred, người mặc chiếc áo sơ mi nhăn nheo, bước xuống cầu thang, dễ dàng giật lấy khẩu súng của Jones, sau đó đá anh ta một cú vào bụng, khiến anh ta ngã xuống chiếc ghế dành cho khách.

Fred ngồi xuống, châm thuốc lá và nhai nó.

Người đệ tử bên cạnh lập tức lấy que diêm để châm thuốc cho anh ta.

Hút hai hơi thuốc, Fred xoa xoa cổ

1/1 0%