lore

Chương 1129: Hiện tượng người Mỹ say mê Vương quốc Anh vào thế kỷ 19

14,772 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trước khi Shakespeare tạo nên diện mạo mới cho tiếng Anh, Vương quốc Anh từ lâu đã bị coi là vùng đất thiếu văn hóa trong châu Âu.

Đóng góp của Shakespeare cho tiếng Anh không chỉ nằm ở những vở kịch kinh điển mà ông để lại, mà còn ở việc ông đã sáng tạo ra rất nhiều từ ngữ cao cấp cho tiếng Anh, qua đó làm phong phú thêm nội dung và chiều sâu của ngôn ngữ này, giúp xã hội Anh thoát khỏi ấn tượng rằng tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ của những người quê mùa.

Chính từ thời Shakespeare, Vương quốc Anh mới cuối cùng có được văn học thuộc về chính dân tộc mình, và đó cũng là lý do tại sao Shakespeare mãi mãi sẽ là nhà văn số một của Anh.

Bởi vì dù những người sau này như Điền Căn Thức có xuất sắc đến đâu, họ cũng luôn sáng tác dựa trên nền tảng mà Shakespeare đã xây dựng; miễn là họ vẫn sử dụng tiếng Anh để viết lách, thì vị trí của họ trên văn đàn sẽ không bao giờ vượt qua được Shakespeare.

Tình hình tương tự cũng xảy ra với tiếng Đức và tiếng Nga.

Tuy nhiên, việc sáng tạo các từ ngữ cao cấp cho tiếng Đức và sự phát triển của văn học Đức bắt đầu từ năm 1534, khi Mã Đinh Luther dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức – điều này xảy ra hơn ba mươi năm trước khi Shakespeare ra đời. Do đó, văn học dân tộc Đức tự nhiên có nền tảng lịch sử sâu sắc hơn nhiều so với văn học Anh.

Tất nhiên, tiếng Anh cũng không cần phải quá lo lắng, bởi vì tình hình của tiếng Nga còn tồi tệ hơn nhiều so với tiếng Anh.

Tại sao lại nói như vậy?

Bởi vì “Shakespeare của Nga” ra đời vào năm 1799, và người được coi là cha đẻ của văn học Nga chính là Alexander Sergeyevich Phù Xí Chinh – người bạn của Sir Arthur.

Như nhà phê bình văn học Nga Belinsky đã nói: Trước khi có Phù Xí Chinh, Nga thực sự không có văn học.

Mặc dù vào thời đại Nữ hoàng Catherine Đại đế, đã có những tác phẩm viết bằng tiếng Nga xuất hiện, nhưng chính Phù Xí Chinh mới là người thực sự thúc đẩy quá trình chuẩn hóa tiếng Nga và đưa ngôn ngữ này lên tầm cao văn hóa.

Đó cũng là lý do tại sao cho đến thế kỷ 19, tiếng Nga vẫn bị giới thượng lưu Nga coi là ngôn ngữ của người nông thôn.

Việc chuẩn hóa tiếng Nga hiện vẫn đang diễn ra; trước khi có đủ nhiều tác phẩm xuất sắc được sáng tác ra trong văn đàn Nga, có lẽ xã hội Nga sẽ rất khó để thay đổi định kiến rằng “tiếng Nga là ngôn ngữ của người thấp cấp”.

Tuy nhiên, mặc dù tình hình của tiếng Anh tốt hơn nhiều so với tiếng Nga, nhưng sau gần ba thế kỷ phát triển, vị trí của tiếng Anh đã được nâng cao đáng kể.

Nhưng ngay cả vào thế kỷ 19 khi Arthur sống, ảnh hưởng văn hóa của nước Anh đang phát triển mạnh mẽ vẫn thường xuyên bị Paris và Vienna áp đảo.

Tuy nhiên, như câu tục ngữ đã nói, cái tốt và cái xấu luôn được so sánh với nhau mới hiểu rõ.

Mặc dù London chỉ đứng sau Paris và Vienna trong vòng văn hóa châu Âu, nhưng trong vòng văn hóa tiếng Anh, đặc biệt là trước mặt người Mỹ, thì Fleet Street thực sự có vị thế rất vững chắc.

Lịch sử những lời chế giễu người Mỹ của London có thể được truy ngược lại từ trước khi các thuộc địa Bắc Mỹ giành được độc lập; ngay từ đầu thế kỷ 18, việc chế giễu cách nói của người Mỹ đã trở thành một hoạt động phổ biến khắp nước Anh.

Mặc dù cả hai bên đều nói tiếng Anh, nhưng do khoảng cách địa lý, người Mỹ tự nhiên phát triển ra tiếng Anh Mỹ và giọng điệu Mỹ riêng của mình.

Tất nhiên, người Mỹ gọi đó là tiếng Anh Mỹ, còn người Anh thì cho rằng tiếng Anh chỉ có một loại duy nhất; không hề tồn tại tiếng Anh Anh hay tiếng Anh Mỹ, mà chỉ có tiếng Anh đúng và tiếng Anh sai.

Người Mỹ có thể cáo buộc Anh đang thực hiện hành vi bá đạo văn hóa đối với họ, nhưng thực tế, ngay cả nhiều người Mỹ cũng không thể chịu đựng được cái gọi là tiếng Anh Mỹ.

John Witherspoon, một trong những người ký Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, cũng không thể tha thứ cho những lỗi ngữ pháp của đồng bào mình.

Ông công khai chỉ trích rằng những lỗi điển hình của tiếng Anh Mỹ là việc sử dụng “every” thay cho “everyone”, “mad” thay cho “angry”, và ông đặc biệt ghét những cách diễn đạt lặp đi lặp lại như “thishere” hay “thatthere”.

Nói tóm lại, ngay cả chính người Mỹ cũng cảm thấy rằng họ là một quốc gia thiếu văn hóa.

Theo thời gian, những lời chế giễu của Anh đối với người Mỹ đã từ những lời cười nhạo ban đầu trở thành những lời cảnh báo nghiêm túc.

Giới phê bình văn học Anh đã nhiều lần chỉ trích rằng Mỹ đang phá hủy sự thiêng liêng của tiếng Anh; tạp chí “London Magazine” thậm chí còn tỏ ra vô cùng phẫn nộ trước việc cựu tổng thống Mỹ Thomas Jefferson say mê tạo ra những từ vựng kiểu Mỹ: “Thưa ông Jefferson, chúng tôi sẵn lòng tha thứ cho mọi lời công kích của ông đối với tính cách dân tộc Anh, dù những lời công kích đó vô lực và thiếu khoan dung… Nhưng xin hãy để dành điều đó cho tương lai. Làm ơn, hãy tha thứ cho ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng tôi!”

Thậm chí, trong xã hội Anh còn xuất hiện những tiếng kêu gọi yêu cầu người Mỹ nên chuyển sang sử dụng tiếng Pháp.

Nhưng thật không may, mặ

Rất nhanh chóng, những người yêu nước Mỹ đã bắt đầu phản kháng sự thống trị văn hóa của Anh. Cựu tổng thống Thomas Jefferson là người tiên phong trong cuộc chiến này, khi ông tuyên chiến với cuốn từ điển tiếng Anh của Samuel Johnson. Kể từ khi được xuất bản vào năm 1755, cuốn từ điển này luôn giữ vị trí cao quý nhất; vì vậy, Jefferson cho rằng nếu không loại bỏ Johnson khỏi vị trí “quyền lực tối cao” trong ngôn ngữ tiếng Anh, Mỹ có thể sẽ tiếp tục bị ràng buộc bởi tiếng Anh kiểu Anh trong suốt thế kỷ 19.

Dưới sự khích lệ của Jefferson, nhà ngôn ngữ học người Mỹ Noah Webster đã viết một bài báo có tựa đề “Sự xâm nhập của Anh đối với ngôn ngữ Mỹ”, và công khai tuyên bố rằng cuốn từ điển của Johnson là “một âm mưu lớn; con cháu của chúng ta đang bị nó cắt đi mái tóc”. Mặc dù phong trào này từng diễn ra rất sôi nổi, nhưng những hành động này lại càng củng cố định kiến rằng “người Mỹ thiếu văn hóa” trong mắt các quốc gia khác.

Tuy nhiên, ngay trong nước Mỹ, đặc biệt là trong giới học thuật, cũng có không ít học giả phản đối phong trào này. Điều đáng cười hơn nữa là, những học giả nổi tiếng càng phản đối mạnh mẽ; họ đặc biệt ghét bỏ những cải cách về cách viết tiếng Anh theo kiểu Mỹ, thậm chí còn nói thẳng rằng “dù thế nào đi nữa, sai sót trong việc viết vẫn là sai sót; ngay cả khi các bạn cho rằng đó là đặc trưng của Mỹ”.

Nếu giới học thuật Mỹ phản đối mạnh mẽ tiếng Anh kiểu Mỹ, thì tình hình trong quần chúng Mỹ lại như thế nào? Liệu người dân Mỹ thực sự ủng hộ phong trào này hay không? Theo một nghĩa nào đó, là có; phong trào này thực sự có được sự ủng hộ rộng rãi trong dân chúng Mỹ. Nhưng điều thú vị là, mức độ ủng hộ tiếng Anh kiểu Mỹ của người Mỹ lại giảm dần theo tầng lớp xã hội mà họ thuộc về; thực tế, ngay cả những người ở tầng lớp thấp hơn – những người ủng hộ mạnh mẽ nhất tiếng Anh kiểu Mỹ – cũng chỉ nói một cách miệng thì nói, lòng thì không.

Nếu không phải vậy, thì việc Điền Căn Thức đến thăm Mỹ sao lại gây ra một làn sóng lớn như vậy? Tất nhiên, không thể phủ nhận rằng Điền Căn Thức là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Anh hiện nay, nhưng ngay cả vậy, những tác động mà ông gây ra tại Mỹ vẫn thật khó tin. Điều này không chỉ vượt qua sự dự đoán của Hội đồng Xuất bản Đế quốc, mà thậm chí còn vượt qua cả sự dự đoán của Chính phủ Anh. Thực tế, ngay từ khi Điền Căn Thức cùng vợ là Katherine lên tàu du thuyền “Great Western” tại Lý Vật Phố, các tờ

Khi Điền Căn Thức vẫn chưa đặt chân đến Mỹ, tờ “New York Herald” đã nhận thấy rằng: “Hiện nay, cả Boston lẫn khu vực New England đều đang bị ‘cơn sốt Điền Căn Thức’ lan tràn.”

  Sau khi Điền Căn Thức đến Boston, tờ “New York Herald” lại tiếp tục phàn nàn: “Người đọc ở New York rất mong muốn biết thêm thông tin về vị thiên tài này. Tuy nhiên, gần đây các tờ báo ở Boston lại im lặng hoàn toàn trước những động thái của Sá Châu và Điền Căn Thức; họ đang có ý đồ gì vậy?”

  Tuy nhiên, ông Điền Căn Thức – người đang thực hiện nhiệm vụ “đối ngoại văn học” – không phải phải chờ đợi quá lâu. Sau chuyến thăm Boston kéo dài năm ngày, ông nhanh chóng lên đường đến New York.

  Theo báo cáo của tờ “New York Tribune”, vợ chồng Điền Căn Thức đi từ Newport bằng tàu hơi nước và đã gặp phải một đám đông cuồng nhiệt như “lốc xoáy” tại bến cảng. Tiếng hô vang khắp nơi: “Ông ấy ở đó! Cho tôi xem!” và “Chết tiệt, lùi lại!” Khi con tàu cuối cùng cập bến, hàng trăm fan cuồng nhiệt đã xông pha qua sự ngăn chặn của cảnh sát New York, lao lên boong tàu để bắt tay và ôm lấy Điền Căn Thức.

  Sau khi cảnh sát cuối cùng giành lại trật tự, ủy ban chào đón chính thức do Hội đồng Thành phố New York tổ chức mới có cơ hội gặp gỡ vị thần tượng trong giới văn học Anh ngữ này.

  Theo báo cáo, ủy ban chào đón gồm toàn những người nổi tiếng địa phương ở New York. Vào buổi tối hôm đó, họ đã tổ chức bữa tiệc chào mừng cho vợ chồng Điền Căn Thức tại khách sạn Astor House ở Broadway, New York; bầu không khí tại đó vô cùng sôi nổi.

  Về điều này, tờ “New York Herald” không khỏi tự hào viết: “Thưa quý vị, xin hãy đọc, suy ngẫm và chuẩn bị sẵn sàng. Bởi vì tuần sau, lịch sử văn học thế giới sẽ chứng kiến một khoảnh khắc mang tính bước ngoặt. Boston không thể làm được điều này; vì vậy, New York phải đứng ra. Hãy cùng chúng ta tổ chức một bữa tiệc và lễ chào đón long trọng nhất để đón chào thiên tài sáng tạo vĩ đại nhất của thời đại này – ông Sá Châu và Điền Căn Thức.”

  Mặc dù báo cáo của tờ “New York Herald” có phần phóng đại, nhưng quy mô và sự hoành tráng của buổi lễ chào đón mà New York đã chuẩn bị thực sự đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong giới văn học Anh.

Họ không chỉ đặt trọn gói toàn bộ rạp hát Park Theatre ở New York mà còn đặc biệt chọn tên “Bosz” – bút danh sớm của Điền Căn Thức – để đặt tên cho buổi tiệc, như một cách thể hiện sự kính trọng dành cho ông.

Tất cả 2.212 vé vào cửa cho sự kiện này đã được bán hết ba tuần trước khi nó diễn ra. Vào ngày diễn ra sự kiện, hơn ngàn chiếc đèn lộng lẫy trong rạp đều được bật sáng cùng lúc; các cảnh từ tiểu thuyết của Điền Căn Thức được tái hiện qua các hình vẽ trang trí và buổi tiệc hóa trang. Tại tầng bốn của rạp, không chỉ có những vòng hoa, rèm cửa phủ vàng và vương miện hoa mà họ còn khéo léo trưng bày song song cả hình ảnh các tổng thống Mỹ qua các thời đại cùng với chân dung của chính Điền Căn Thức.

“Cảnh tượng bên trong buổi tiệc Bosz” – Tranh minh họa trên trang nhất tờ *New York Herald* ngày 16 tháng 2 năm 1842. Về mặt thực phẩm, New York cũng đã áp dụng những tiêu chuẩn cao nhất.

Trong suốt buổi tiệc, tổng cộng có 28.000 con hàu, 10.000 chiếc sandwich, 40 miếng thịt xông khói, 76 miếng lưỡi bò, 12 con thiên nga và hơn 2.000 miếng thịt cừu được phục vụ. Đồ tráng miệng bao gồm 2.000 chiếc bánh phủ đường, 350 quảt mứt, 300 quảt kem, 25 cây đèn đường trang trí và hàng nghìn món bánh khác.

Dưới sự chú ý của hàng nghìn người, Washington Irving – người dẫn đầu giới văn học Mỹ – đã dắt tay Điền Căn Thức bước vào sân khấu, và bản nhạc mở màn là bản giao hưởng nổi tiếng của Handel mang tên “Nhìn kìa, người anh hùng chiến thắng đang đến”.

Khi tin tức này truyền về London, các tờ báo sáng sớm trên phố Fleet đều xuất bản muộn hơn bình thường nửa giờ.

“Sá Châu và Điền Căn Thức chinh phục nước Mỹ”

“Người dân New York đổ xô ra đường chào đón Bosz”

“Buổi tiệc Bosz hoành tráng chưa từng có”

“Có lẽ Sá Châu và Điền Căn Thức thích hợp hơn Kiều Trị III để trở thành vua Anh…”

Elder ngồi trên ban công văn phòng Bộ Hải quân, tay cầm tờ *The Times* vừa mới được in ra; biểu cảm trên khuôn mặt ông thay đổi liên tục trong vài giây ngắn ngủi. Lúc này, trái tim Elder đang đau nhói. Nếu không phải vì bị giam cầm trong văn phòng Bộ Hải quân, người đang được người dân New York chào đón nồng nhiệt bên kia đại dương chính là ông!

Nhiều lợi ích như vậy mà sao lại để cho thằng Điền Căn Thức kia được hưởng hết thảy?!

  Eldor đập mạnh tờ báo xuống bàn làm việc, khiến nắp cốc trà bên cạnh Arthur bay tung tóe lên.

  Arthur liếc nhìn ông ấy qua đám hồ sơ chất đống: “Cậu có biết lúc cậu đập bàn vừa rồi, nắp cốc trà đã bị văng đi không?”

  “Nắp cốc trà à?“ Eldor nhảy xuống từ bậc cửa sổ, đặt hai tay lên mép bàn, gần như ngã sấp xuống: “Arthur, lúc này rồi mà cậu vẫn nói về cái nắp cốc trà à? Thật không công bằng chút nào! Sá Châu đang được mọi người chú ý ở New York, trong khi chúng ta thì sao? Arthur! Cậu có thể để cái danh sách mua sắm đó sang một bên được không?“

  Arthur đặt các hồ sơ xuống, cầm lấy tờ *The Times* và nhìn qua những mục thực đơn tiệc tùng dày đặc trên trang báo: “Eldor, cậu có bao giờ nghĩ đến một điều không?“

  “Điều gì vậy?“

  “Nếu người đi đến Mỹ là cậu, có lẽ người dân New York sẽ không quan tâm đến cậu nhiều như họ quan tâm đến Sá Châu đâu.“

  “Không thể nào!“

  “Tại sao lại không thể?“

  “Nếu họ không quan tâm đến tôi, chỉ có thể hiểu là họ chưa biết hết những thành tựu của tôi mà thôi!“

  Arthur vuốt cằm suy nghĩ một lúc, cuối cùng cũng phải thừa nhận: “Cũng đúng đấy.“

  Nhận được sự đồng tình từ Arthur, Eldor lập tức cảm thấy tự tin tăng lên, nhưng rồi lại không khỏi buồn bã.

  “Thật đáng thương!“ Eldor vỗ vào ngực mình: “Trợ lý bộ trưởng Hải quân, trụ cột của nhà xuất bản Đế quốc, họa sĩ chính thiết kế các bản đồ hàng hải toàn cầu, nhưng bây giờ lại chỉ có thể ngồi yên lặng trong căn phòng này… Điều này có phải không đáng thương không? Đây chính là bi kịch của một thiên tài! Tôi đã từ bỏ tiếng vỗ tay của người dân New York và những vinh quang thế tục, từ bỏ cơ hội được Washington Irving dắt tay vào rạp hát Park Theatre… Arthur, tôi đã hy sinh quá nhiều vì lợi ích của người dân Anh rồi.“

  “Eldor, cậu nói đúng, công việc ở Bộ Hải quân quả thực khiến cậu bỏ lỡ nhiều vinh quang thế tục.“ Arthur từ tốn nhấp một ngụm trà: “Nhưng mọi thứ đều có cái được và cái mất. Dù Bộ Hải quân có giam cầm cậu, nhưng nó cũng mang lại cho cậu những cơ hội lớn hơn. Nhỉ, tôi đang có một việc có thể khiến cậu nổi tiếng hơn cả Sá Châu… Cậu có muốn thử không?“

  Lúc nãy, Eld vẫn đang cảm thán về số phận bi thảm của mình, nhưng nghe xong câu nói này, anh ta lập tức trở nên hào hứng không ngớt, đôi mắt chăm chú nhìn vào Arthur.

  “Có chuyện gì vậy?”

  “Tháng tới, cảng Portsmouth sẽ tổ chức một cuộc diễu hành hạm đội.” Arthur đặt bức thư từ Bộ Ngoại giao lên bàn, ngón tay gõ nhẹ lên con dấu sáp trên phong bì: “Hạm đội Biển Manche của Hải quân Hoàng gia sẽ ra đường đón một vị khách quý. Vị khách này là lần đầu tiên đến thăm Anh, nữ hoàng và nội các đều rất coi trọng điều này. Bộ Hải quân cần phải cử một quan chức cấp cao đi cùng suốt chuyến đi, đảm nhận công việc tiếp đón, hướng dẫn, giải thích, và đứng ở hàng đầu trong buổi diễu hành hạm đội – tức là đứng ngay trước mặt tất cả các phóng viên và người dân đến xem…”

  Cổ họng của Eld rung lên; anh đã đoán được Arthur muốn nói gì.

  “Arthur… ông không lẽ… ý ông là…”

  Arthur mỉm cười và gật đầu nhẹ: “Đúng vậy. Ủy ban Bộ Hải quân đã quyết định rằng, bạn sẽ là người giải thích cho Sa hoàng Nikolai I của Nga.”

  」」

1/1 0%