lore

Chương 548: Những kẻ chủ nghĩa đế quốc không nghiêm túc

12,059 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

——Benjamin Disraeli

Luật Trợ cấp Nghèo khó có một lịch sử khá dài tại nước Anh. Ngay từ thế kỷ 16, trước khi chính phủ trung ương bắt đầu thu thuế trợ cấp nghèo khó một cách thống nhất, các chính quyền địa phương ở Anh đã tự mình thu thuế này để hỗ trợ người nghèo theo nhu cầu của từng khu vực.

Nguyên nhân dẫn đến việc này là do “phong trào thu hồi đất đai” bắt đầu vào thế kỷ 16 đã gây ra những thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội Anh. Rất nhiều lao động trưởng thành buộc phải rời bỏ quê hương và đi lang thang vì mất đất đai.

Phong trào này còn dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng: do nhiều đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đồng cỏ chăn nuôi, giá cả thực phẩm cơ bản đã tăng vọt vào thế kỷ 16.

Vào cuối thế kỷ 15, công nhân Anh chỉ cần làm việc 15 tuần là có thể kiếm đủ lương cho cả gia đình trong một năm. Đến giữa thế kỷ 16, họ cần phải làm việc 40 tuần mới đủ số tiền đó. Vào cuối thế kỷ 16, ngay cả khi làm việc cả năm, họ vẫn khó có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cơ bản của gia đình mình.

Đồng thời, Cuộc Cải cách Tôn giáo diễn ra vào giữa thế kỷ 16 đã khiến nhà vua chiếm hữu đất đai và tài sản của các tu viện Công giáo, khiến gần một nửa số nhà tùy thân và bệnh viện tôn giáo trên toàn quốc buộc phải đóng cửa. Mô hình trợ cấp từ giáo hội, đã tồn tại hàng thế kỷ, cũng bị phá vỡ, vì vậy chính phủ buộc phải đảm nhận vai trò trước đây của giáo hội Công giáo trong việc hỗ trợ người nghèo.

Trong thời đại của Nữ hoàng Elizabeth I, dân số toàn London chỉ khoảng hơn 200.000 người, nhưng trong số đó có hơn 50.000 người là người vô gia cư. Trên khắp đại Anh, hơn một phần ba số người dân bình thường không đủ thức ăn để sống.

Lúc bấy giờ, các chính quyền địa phương, để quản lý số lượng lớn người nghèo, thậm chí còn sẵn lòng hy sinh danh dự mà chính phủ Anh đã giữ gìn suốt hàng trăm năm, để cấp cho người nghèo địa phương những giấy phép xin ăn. Bằng cách cho phép nhóm người này đi xin ăn công khai, họ có thể thống kê được số lượng họ và điều chỉnh hành vi của họ.

Trong bối cảnh xã hội nghiêm trọng như vậy, vào năm 1601, Quốc hội Anh đã thông qua “Luật Trợ cấp Nghèo khó Elizabeth”, đưa hệ thống trợ cấp nghèo khó vào chương trình làm việc chính thức của chính phủ.

Theo quy định của luật này, các giáo xứ sẽ thu thuế trợ cấp nghèo khó từ tầng lớp giàu có và tầng lớp trung lưu, và số tiền thu được sẽ được dùng riêng để hỗ trợ những người nghèo nhất trong giáo xứ đó.

Các hình thức trợ cấp nghèo khó theo luật này

Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu, chỉ có năm nhóm người gồm người già yếu, người tàn tật, trẻ em và người nghèo khó mới được phép nhận trợ cấp ngoài trời.

Mãi cho đến cuối thế kỷ 18, khi khả năng tài chính của Chính phủ Anh được cải thiện đáng kể, Quốc hội mới thông qua “Đạo luật Gilbert”, cho phép những người khỏe mạnh cũng có thể nhận trợ cấp ngoài trời.

Phương thức trợ cấp theo Đạo luật cũ chủ yếu tập trung vào ba khía cạnh:

Thứ nhất là trợ cấp tiền mặt – như tên gọi của nó, đó là việc cung cấp tiền cho những người nhận trợ cấp. Các giáo xứ thường thanh toán trợ cấp hàng tháng hoặc hàng tuần cho người già, người tàn tật, các bà góa có con cái… những người mà họ cho là xứng đáng được trợ giúp.

Đối với nam giới trẻ tuổi và khỏe mạnh, nếu họ đột nhiên rơi vào cảnh nghèo khó do bị bệnh hay mất việc làm, họ cũng có thể xin trợ cấp “tạm thời” từ giáo xứ cho đến khi họ bình phục hoặc tìm được việc làm.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn có thể sống dựa vào trợ cấp mãi mãi. Nếu ủy ban trợ cấp phát hiện ra rằng bạn khỏe mạnh nhưng từ chối làm việc vì lười biếng, hoặc bạn nhận trợ cấp quá lâu, thì việc bị đánh đòn và buộc phải lao động trong Nhà Tùy Thân cũng là hành động hợp pháp.

Hơn nữa, do có quá nhiều người nghèo, nguồn thu từ thuế trợ cấp của các giáo xứ thường không đủ để chi trả. Vì vậy, mỗi năm ủy ban trợ cấp đều sẽ xem xét lại ai trong giáo xứ xứng đáng được trợ giúp. Do đó, vào thời điểm đó, hầu như không có ai có thể sống nhờ vào trợ cấp suốt đời.

Ngoài trợ cấp tiền mặt, một hình thức trợ cấp quan trọng khác là trợ cấp nhà ở. Bắt đầu từ thế kỷ 18, các giáo xứ bắt đầu cung cấp nhà ở cho những người nghèo mà dù làm việc vẫn không đủ tiền trả tiền thuê nhà.

Các giáo xứ thường trực tiếp thanh toán tiền thuê nhà cho chủ nhà, nhằm đảm bảo rằng những người nghèo có chỗ ở ổn định. Nếu chủ nhà phát hiện ra rằng người thuê không thể trả tiền thuê, họ đôi khi cũng sẽ yêu cầu giáo xứ thanh toán thay họ. Nếu giáo xứ sở hữu đủ nhà ở, những người nghèo trong khu vực đó cũng có thể xin thuê với mức tiền thuê thấp hơn.

Tuy nhiên, đối với hầu hết các giáo xứ, nhà ở mà họ sở hữu chính là Nhà Tùy Thân. Nhưng do điều kiện sống ở đó quá tồi tệ, hầu hết những người trẻ tuổi và khỏe mạnh đều không muốn chuyển đến đó sinh sống; chỉ những trẻ mồ côi, người tàn tật hoặc người bệnh mới chọn ở đó. Bởi vì dù điều kiện có tồi tệ đến đâu, ít nhất Nhà Tù

Từ giữa thế kỷ 18 trở đi, các giáo xứ lạc hậu bắt đầu thuê các bác sĩ chuyên nghiệp; những giáo xứ bình thường ký kết hợp đồng hàng năm với các bệnh viện, trong khi những giáo xứ giàu có thì trực tiếp thành lập các bệnh viện từ thiện để hỗ trợ người nghèo trong khu vực của mình trong các dịch vụ y tế như tiêm vắc-xin phòng bệnh, cung cấp thuốc men, hỗ trợ sinh nở và điều trị bệnh tật. Những người nghèo bị bệnh cũng có thể lựa chọn điều trị tại nhà, và người thân của họ buộc phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc cơ bản, đồng thời có thể nhận được khoản thù lao từ giáo xứ.

Vào mỗi dịp lễ hội hoặc khi các quý tộc địa phương quyên góp tiền để làm việc từ thiện, giáo xứ còn phát phát các nhu yếu phẩm thiết yếu cho người nghèo như thức ăn, quần áo, nhiên liệu, đồ giặt… Nếu may mắn, họ thậm chí còn nhận được một số tiền. Những giáo xứ giàu có có thể cung cấp cả vật liệu sửa chữa nhà cửa và tiền lương cho thợ thủ công…

Mặc dù trong các hoạt động từ thiện này, thường xuất hiện sự khác biệt lớn do sự chênh lệch về mức độ phát triển kinh tế và số lượng người nghèo giữa các khu vực, nhưng ít nhất trong hơn 200 năm kể từ khi Đạo luật Từ thiện Elizabeth được ban hành, đạo luật này đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người nghèo, giảm bớt mâu thuẫn xã hội và duy trì sự ổn định của xã hội.

Trong suốt 200 năm đó, Đạo luật Từ thiện Elizabeth cũng đã được sửa đổi nhiều lần nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình trợ giúp xã hội.

Lý do chính mà Đảng Whig muốn sửa đổi Đạo luật Từ thiện Elizabeth là do Đạo luật Spehamland được thông qua vào năm 1795.

Lúc bấy giờ, theo kết quả nghiên cứu của 18 thẩm phán ở Berkshire, họ cho rằng việc trợ giúp người nghèo nên dựa trên giá bánh mì và quy mô gia đình, chứ không phụ thuộc vào số tiền họ thực sự kiếm được, nhằm đảm bảo rằng người nghèo có được một nguồn thu nhập tối thiểu để nuôi sống cả gia đình.

Nói một cách hiện đại hơn, đó là họ quyết định liên kết trợ cấp với chỉ số lạm phát giá thực phẩm.

Theo tính toán của các thẩm phán, nếu giá 1 gallon bánh mì là 1 shilling, một người nghèo cần có thu nhập 3 shilling mỗi tuần mới đủ chi phí cho nhu cầu cá nhân. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, mỗi khi có thêm một người trong gia đình, thu nhập hàng tuần cần tăng thêm 1 shilling 6 pence. Mỗi khi giá bánh mì tăng thêm 1 shilling, người đó cần chi thêm 3 shilling mỗi tuần, và mỗi thành viên trong gia đình cũng cần chi thêm 1 shilling.

Nếu mức lương của họ không đủ để đáp ứng yêu cầu này, thì giáo xứ nên bổ sung phần chênh lệch đó trong trợ cấp. Là một chương trình tái ph

Nhưng đối với tình hình tài chính của chính phủ thì việc thông qua “Đạo luật Spitalman” không nghi ngờ gì là một thảm họa.

Do giá cả liên tục tăng lên, các khoản “trợ cấp lương” được liên kết với chỉ số lạm phát cũng tăng vọt theo. Chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1817 đến 1832, chi tiêu cho công tác giúp đỡ người nghèo trên toàn quốc đã tăng thêm 23%, khiến tài chính chính phủ gặp áp lực lớn.

Tệ hơn nữa, vì chính phủ sẽ bù đắp cho sự chênh lệch lương của công nhân, nhiều chủ nhà máy thuộc các ngành lao động sử dụng nhiều lao động đã cố tình hạ thấp mức lương. Bởi vì dù họ chỉ trả 1 xu mỗi tuần, chính quyền địa phương vẫn sẽ bổ sung để đảm bảo rằng thu nhập của công nhân đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cơ bản.

Ngoài ra, vì người nghèo chỉ có thể nhận trợ cấp lương tại khu vực đăng ký hộ khẩu của mình, điều này cũng hạn chế một phần sự di chuyển tự do của lao động.

Tất cả những yếu tố này khiến Đảng Whig, những người tin vào chủ nghĩa tự do, không thể chấp nhận được. Theo quan điểm của họ, “Dự luật bãi bỏ nô lệ”, “Luật về nhà máy” và “Luật mới về giúp đỡ người nghèo” dù là ba biện pháp cải cách khác nhau, nhưng thực chất lại là một bộ gói các biện pháp liên kết với nhau.

“Dự luật bãi bỏ nô lệ” cần chi 20 triệu bảng Anh, nhưng nó sẽ giúp giải phóng lực lượng lao động của những người nô lệ, đưa những người lao động trưởng thành và khỏe mạnh này vào làm việc trong các nhà máy, từ đó nâng cao hiệu suất sản xuất.

“Luật về nhà máy” cấm trẻ em dưới 9 tuổi làm việc trong các xí nghiệp dệt may, kiểm soát thời gian làm việc của thanh thiếu niên từ 9 đến 18 tuổi. Những quy định này không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em mà còn vì hiệu suất làm việc của trẻ em quá thấp, và việc để trẻ em làm việc quá sớm sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của Vương quốc Anh trong tương lai.

Các vị trí công việc còn trống sau khi loại bỏ trẻ em lao động sẽ được lấp đầy bởi những người nô lệ được giải phóng theo “Dự luật bãi bỏ nô lệ”.

Và để thực hiện hai dự luật đầu tiên, đặc biệt là để có đủ nguồn kinh phí 20 triệu bảng Anh cần thiết cho “Dự luật bãi bỏ nô lệ”, họ buộc phải can thiệp vào “Luật giúp đỡ người nghèo Y Lệ Sa Bạch” – một luật mà chi tiêu hàng năm đang ngày càng tăng.

Sau khi cải cách Quốc hội được thực hiện, Đảng Whig có nền tảng vững chắc để thực hiện những thay đổi đối với “Luật giúp đỡ người nghèo Y Lệ Sa Bạch”.

Như mọi người đều biết, tầng lớ

Vào thời kỳ Đảng Bảo thủ nắm quyền, nhóm quý tộc đất đai và các ngân hàng gia này đều cho rằng những khoản thuế này không gây ảnh hưởng lớn đến họ, nhưng lại có thể giúp ổn định môi trường xã hội, vì vậy họ không có ý định cải cách Luật Trợ cấp Nghèo khó.

Tuy nhiên, đối với tầng lớp trung lưu mới chỉ được trao quyền bầu cử, thậm chí là những người thuộc tầng lớp trung và thấp còn chưa có quyền bầu cử, việc phải chi trả tiền thuế trợ cấp nghèo khó hàng năm thực sự là một gánh nặng lớn.

Vì vậy, khi Đảng Tự do đề xuất cải cách “Luật Trợ cấp Nghèo khó của Y Lệ Sa Bạch” để giảm bớt chi tiêu tài chính của chính phủ, đại đa số trong số họ đều ủng hộ mạnh mẽ đề xuất này.

Còn đối với nhóm các nhà tư bản công nghiệp – một lực lượng cơ bản khác của Đảng Tự do – dù họ lo rằng việc chính phủ hủy bỏ trợ cấp lương sẽ làm tăng chi phí lao động, nhưng xét cho cùng, trước đó Đảng Tự do đã sử dụng “Đạo luật Bãi bỏ Nô lệ” để giảm bớt áp lực cho họ bằng cách tạo ra thêm nguồn lao động. Hơn nữa, các nhà tư bản công nghiệp cũng nhận ra rằng việc hủy bỏ trợ cấp lương sẽ khiến nhiều lao động nghèo khó từ các khu vực nông thôn đổ về các thành phố công nghiệp mới nổi để tìm kiếm cơ hội việc làm.

Nếu tính toán kỹ lưỡng, mặc dù chi phí lao động có thể tăng lên, nhưng mức tăng này vẫn nằm trong khả năng chấp nhận được. Chưa kể, những nguồn lao động mới này còn tạo ra nhiều nhu cầu tiêu dùng hơn, vì vậy các chủ nhà máy cũng không phản đối mạnh mẽ việc cải cách “Luật Trợ cấp Nghèo khó”.

Tuy nhiên, điều mà Đảng Tự do coi là một tin vui lớn, lại không phải ai cũng đồng tình. Đặc biệt là Đức Thái Lai – một người trẻ tuổi thuộc Đảng Bảo thủ, người hết mực tôn thờ tinh thần cổ điển của nước Anh – ông ta cho rằng việc cải cách “Luật Trợ cấp Nghèo khó” chính là một thảm họa.

Chàng trai người Do Thái này dường như đã nhìn thấy rõ rằng những làng quê đẹp đẽ và cổ kính của nước Anh sẽ bị phá hủy hoàn toàn sau cuộc cải cách này; mọi người, dù tự nguyện hay bị buộc phải, đều sẽ phải từ bỏ cuộc sống yên bình ở nông thôn và chuyển sang cuộc sống đô thị đầy nhàm chán và tuyệt vọng.

Hơn nữa, Đức Thái Lai còn khẳng định rằng việc cải cách “Luật Trợ cấp Nghèo khó” chỉ càng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở Anh và làm trầm trọng thêm mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Anh.

“Lũ khốn nạn Đ

1/1 0%