lore

Chương 815: Trứng Phục Sinh: Tập Thư của Arthur Hastings (Thời Nội Chiến Hoa Kỳ)

13,831 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

**Báo cáo tình hình liên quan đến sự kiện tàu Trent**

Ngày: 16 tháng 11 năm 1861

Loại hình: Báo cáo mật – Chỉ được phân phối nội bộ trong hệ thống ngoại giao

Trước tình hình biến động đột ngột ở Bắc Mỹ, Chính phủ Hoàng gia quyết định thông báo như sau để các đại sứ đặt trú ở nước ngoài nắm rõ tình hình và xác định phương hướng đàm phán tại địa phương:

Vào ngày 8 tháng 11, tàu tuần dương “Saint Augustine” thuộc Hải quân Hoa Kỳ đã chặn lại tàu du thuyền của chúng ta là “Trent” tại vùng biển Bahamas mà không hề có lời tuyên chiến. Lúc đó, con tàu đang từ Havana đi đến Lý Vật Phố, trên tàu có các nhà ngoại giao thuộc phe Liên minh các tiểu bang miền Nam là Giac-mô Mason và John Slade, những người dự định sang châu Âu để tiến hành các cuộc đàm phán ngoại giao.

Sau khi việc chặn đường xảy ra, chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ, ông Charles Wilkes, đã ra lệnh cho binh sĩ tiếp cận tàu và mang theo hai người trên tàu, khiến toàn thể thủy thủ và hành khách trên “Trent” rất hoảng sợ. Mặc dù không có thương tích nào xảy ra, nhưng hành động này có ý nghĩa pháp lý rất nghiêm trọng và làm tổn hại đến danh dự của Vương quốc Anh và Ireland Liên hiệp Quốc Gia.

Chính phủ Hoàng gia đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp với Viện Cơ mật và Nội các vào ngay ngày nhận được tin. Nhóm cố vấn pháp luật ban đầu kết luận rằng hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do hàng hải của các tàu thương mại của chúng ta. Đặc biệt cần lưu ý rằng hành động của phía Mỹ không phải là hoạt động kiểm tra thường lệ, mà là hành động áp đặt đối với tàu thuyền dân sự của Anh; họ không thực hiện thủ tục tuyên chiến, cũng không đưa ra lý do chính đáng nào, và cũng không thông báo trước cho chúng ta, điều này rõ ràng là hành động khiêu khích.

Thủ tướng Viscount Palmerston đã triệu tập Đại sứ Mỹ tại Anh, ông Sá Châu Adams, để đưa ra những yêu cầu nghiêm khắc đối với phía Mỹ liên quan đến sự kiện tàu Trent, đồng thời yêu cầu Bộ Hải quân và Bộ Lục quân ngay lập tức triển khai các biện pháp chuẩn bị chiến tranh, và yêu cầu Ủy ban Hải quân nhanh chóng nghiên cứu và đề xuất kế hoạch phong tỏa các thành phố cảng của Hoa Kỳ, cũng như các giải pháp khả thi để phá vỡ lệnh phong tỏa này.

Bộ trưởng Ngoại giao Lord John Russell đã chỉ thị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Mỹ, Lord Richard Lyons, trực tiếp gửi công hào ngoại giao chính thức đến Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ ngay lập tức thả những người bị bắt giữ và công khai xin lỗi.

Bộ trưởng Hải quân, Công tước Somerset, đã ra lệnh cho Hạm đội Tây Ấn đi từ Bermuda về phía Tây đến vùng bi

Bộ trưởng Thuộc địa, Công tước Newcastle, đã gửi thư cho Toàn quyền Canada, Tử tước Monk, ủy quyền cho ông ta tiến hành việc tuyển mộ khẩn cấp các tình nguyện viên địa phương, tổ chức các đơn vị dân quân, lập danh sách các thành viên trong những đơn vị này, và ngay lập tức sửa chữa ba pháo đài quan trọng là Montreal, Kingston và Saint-Jean-sur-Richelieu.

Xét đến tình hình căng thẳng hiện nay trong xã hội và sự bất đồng giữa các nghị sĩ thuộc cả hai viện, Chính phủ Hoàng gia quyết định như sau:

Thứ nhất, việc bảo vệ quyền tự do hàng hải của các quốc gia trung lập là ranh giới không thể nhượng bộ.

Thứ hai, nếu phía Mỹ xử lý vấn đề này một cách kịp thời và thỏa đáng, tình hình có thể được kiểm soát trong thời gian tạm thời.

Thứ ba, nếu phía Mỹ từ chối nhượng bộ, Chính phủ Hoàng gia sẽ không loại trừ khả năng áp dụng các biện pháp khác.

Xét đến việc các quốc gia châu Âu đã bắt đầu bàn luận về vấn đề này, và thái độ của Hoa Kỳ vẫn chưa rõ ràng, Chính phủ Hoàng gia mong các vị quý ông cân nhắc kỹ lưỡng trước khi trả lời các câu hỏi từ truyền thông. Nếu có ai đặt câu hỏi, các vị có thể trình bày lập trường của chúng ta theo nội dung của bức thư này. Việc gửi công hàm cho các Bộ Ngoại giao của các quốc gia khác hay không, xin để các vị tự quyết định.

Các đại sứ đang đóng ở nước ngoài nếu nhận được thông tin liên quan đến dư luận, chính trị hoặc quân sự địa phương, xin vui lòng báo cáo ngay cho Bộ Ngoại giao để lưu trữ thông tin.

Sir Arthur Hastings

Tổng Thư ký Nội các Vương quốc Anh và Ireland

Được ký tại Whitehall

……

“Bức thư của Sir Arthur Hastings gửi cho Napoleon III”

Paris, dành riêng cho Ngài.

Kính gửi Đức Hoàng đế Napoleon III của Đế quốc Pháp:

Tối nay, khi tôi đang làm việc, bỗng nhiên trời bắt đầu nổi giông, điều này khiến tôi nhớ lại nhiều kỷ niệm xưa, nhớ về những ngày tôi may mắn được làm việc cùng Ngài tại Scotland Yard.

Kể từ khi chúng tôi cùng nhau du lịch Paris và thảo luận về số phận châu Âu vào những năm đó, chúng tôi đã không còn có dịp trò chuyện thật sự với nhau nữa. Kể từ khi Ngài lên ngai vàng, Ngài phải đối mặt với rất nhiều công việc hành chính phức tạp. Lúc đó, khi chúng tôi cùng nhau đi lại ở khu East End, chẳng ai có thể ngờ rằng sau này, một người trong chúng tôi sẽ cai trị đế quốc, còn người kia sẽ ngồi tại Whitehall.

Khi tuổi tác tăng lên, con người thường có xu hướng nhớ lại quá khứ, thích kể những chuyện cũ kỹ, nhớ về những ngày xưa khi mình còn trẻ trung và đầy sức sống.

Xin Ngài thông cảm vì sự già yếu và thiếu suy nghĩ của tôi.

Hôm nay, tôi viết bức thư này không chỉ để nhớ lại những kỷ niệm xưa, mà còn vì tình hình hi

Anh ta dám công khai tuyên bố trên báo chí rằng chúng ta chỉ đang lợi dụng sự việc này để can thiệp vào chuyện nội bộ của các quốc gia khác.

Trong vấn đề này, trước hết tôi cần xin lỗi Đại sứ của đất nước tôi tại Mỹ, Ngài Leons. Ngài Leons là một người bạn chung của Hoàng thượng và tôi; ngay từ khi Tổng thống Lincoln bổ nhiệm ông Seward làm Ngoại trưởng, Ngài Leons đã cảnh báo Chính phủ Anh rằng đây là một quyết định rất nguy hiểm, bởi vì quan điểm của ông Seward về mối quan hệ giữa Anh và Mỹ luôn là: đó là cơ hội tuyệt vời để tạo ra “vốn chính trị”.

Mặc dù tôi cho rằng ông Seward có lẽ không thực sự có ý định chiến tranh với Anh, nhưng rất có thể ông ta sẽ tái diễn chiêu trò cũ, bằng cách thể hiện thái độ cứng rắn đối với Anh để thu hút sự ủng hộ của người dân trong nước. Nói đến đây, tôi nghĩ Hoàng thượng chắc đã đoán được tôi muốn nói gì… Đúng vậy, tôi tin rằng ông Seward có thể muốn trở thành người kế nhiệm của Palmerston tại Bắc Mỹ.

Kể từ những năm 1840, chính phủ Washington luôn áp dụng chính sách cai trị bằng bạo lực, họ dung túng cho những hành vi bạo loạn của quần chúng để đổi lấy phiếu bầu, giống như những gì họ đã làm trong cuộc tranh chấp biên giới Oregon. Chính phủ Anh đã kiềm chế trong thời gian dài trước những hành vi bất lịch sự của những người này, nhưng sự nhượng bộ vô nghĩa đó lại khiến những kẻ Yankee ngày càng lấn tới.

Vì vậy, tôi hy vọng thông qua bài học này, chúng ta có thể cho họ biết rằng từ nay trở đi, người Mỹ nên từ bỏ quan niệm cũ rằng sự nhẫn nhục của Anh là không có giới hạn. Thành thật mà nói, tốc độ mà Chính phủ Anh đưa ra quyết định rõ ràng đã vượt qua sự mong đợi của tôi; có vẻ như cả Thượng viện lẫn Hạ viện đều đã không thể chịu đựng nổi những kẻ quê mù này nữa.

Đặc biệt là hiện nay, Thủ tướng của chúng ta vẫn là Palmerston; tôi nghĩ người Mỹ có lẽ vẫn chưa hiểu rõ sự khác biệt giữa việc Palmerston làm Thủ tướng và việc La-xơn hay Bì Nhĩ làm Thủ tướng. Có lẽ nên tìm ai đó để nói với họ rằng tính cách và tư duy của Palmerston hoàn toàn giống hệt những kẻ bạo loạn ở Mỹ.

Tôi đặc biệt muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với Hoàng thượng: sau sự việc của con tàu Trent, Bộ trưởng Ngoại giao của đất nước quý vị, ông Edward Tufton, đã ngay lập tức gửi điện đến London, bày tỏ sự đồng tình hoàn toàn với quan điểm của đất nước tôi về quyền hàng hải của các quốc gia trung lập, và kêu gọi chính phủ Mỹ tuân thủ Tuyên ngôn Paris, nhấn mạnh rằng không m

Vâng, tôi đang nói về vấn đề của Mexico.

Anh Quốc, Pháp và Tây Ban Nha là ba quốc gia sở hữu số nợ công lớn nhất của Cộng hòa Mexico, thế nhưng chính phủ Mexico lại công khai tuyên bố tạm hoãn việc trả nợ và gia hạn tất cả các khoản nợ nước ngoài trong vòng hai năm. Hành động này không chỉ đơn thuần là việc trốn nợ, mà còn là sự thách thức trắng trợn đối với trật tự tài chính quốc tế.

Nếu Hoàng thượng hỏi tôi ý kiến gì, có lẽ câu trả lời của tôi sẽ không khiến Hoàng thượng ngạc nhiên. Vâng, tôi ủng hộ việc điều quân. Một chính phủ phát hành trái phiếu tại London, Paris và Madrid, nhưng lại đi nghỉ dưỡng trên bãi biển Veracruz, thì không xứng đáng được sở hữu chủ quyền. Ai vi phạm quy tắc trên thị trường tài chính, người đó không xứng đáng được hưởng sự tôn trọng và phẩm giá quốc gia mà trật tự quốc tế ban tặng.

Những chiến hạm của chúng ta vốn được xây dựng để bảo vệ các tuyến đường thương mại, và hạm đội của chúng ta cũng không phải được dùng để tấn công các quốc gia nợ nần. Nhưng không còn cách nào khác, bởi vì luôn có những quốc gia nợ nần cần phải được nhắc nhở bằng vũ lực về tinh thần của các hiệp ước!

Tất nhiên, tôi nói như vậy không phải vì bản thân tôi đã đầu tư vào trái phiếu công hay trái phiếu đường sắt của Mexico; xin Hoàng thượng đừng tin vào những báo cáo trên tờ “The Constitutional”. Ngài cũng biết rằng, giống như London, Paris cũng luôn có những kẻ không có ý tốt thích lan truyền những lời bôi nhọ về những người đàn ông tử tế. Trong thế giới này, hầu hết mọi người đều không thể chấp nhận việc ai đó hoàn toàn trong sạch, vì vậy họ luôn tìm cơ hội để bôi nhọ người khác.

Tuy nhiên, xin Hoàng thượng hãy suy nghĩ kỹ về một điều. Sự vi phạm nợ của Mexico có lẽ không chỉ xuất phát từ tình trạng khó khăn tài chính, mà còn từ những toan tính chính trị. Hiện nay, phe Tự Do ở Mexico có quan hệ thường xuyên với Washington; việc chuyển tiền, sự phối hợp trong dư luận và việc mở cửa biên giới đều không phải là những việc xảy ra trong một sớm một chiều.

Đoàn đại sứ Anh tại Mexico đã nhiều lần báo cáo rằng, mặc dù phe Tự Do ở Mexico có những ý kiến khác nhau, nhưng họ vẫn thường xuyên giao lưu với phe Bắc ở khu vực biên giới, điều này rất đáng chú ý. Mặc dù hiện tại chúng ta vẫn chưa tìm thấy bằng chứng cụ thể về sự phối hợp quân sự quy mô lớn, nhưng có dấu hiệu cho thấy các kênh thông tin dân sự ở biên giới Texas Nam đang thường xuyên vận chuyển vũ khí và đồ tiếp tế quân sự, và các trạm kiểm soát địa phương ở Mexico hầu như không ngăn cản nhữ

Nếu hôm nay chúng ta cứ ngồi yên không làm gì cả, đợi đến khi Washington giành lại các tiểu bang phía Nam, sắp xếp lại tình hình tài chính và bắt đầu quá trình mở rộng lãnh thổ, e rằng ảnh hưởng của Anh và Pháp trên toàn bộ lục địa mới này sẽ hoàn toàn biến mất.

Trong tình hình như vậy, nếu Ngài ra lệnh quân sự vào Mexico nhưng lại không đồng thời kìm hãm những người tài trợ phía sau họ, thì điều đó giống như việc chỉ có tiếng sấm làm rung mái nhà, trong khi những khung gỗ cũ vẫn đứng vững bất động. Mặc dù có nhiều tiếng ồn ào xung quanh, nhưng khi mưa tạnh đi, những nơi chúng ta muốn nó sụp đổ vẫn sẽ không hề thay đổi chút nào.

Do đó, việc đối phó với tình trạng Mexico vi phạm nghĩa vụ trả nợ và kiềm chế sự mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ thực chất là hai mặt của cùng một vấn đề. Để duy trì trật tự của triều đại và bảo vệ tinh thần hợp đồng, chúng ta chỉ có thể giải quyết vấn đề từ gốc rễ để có được hiệu quả lâu dài.

Có lẽ Ngài cũng đã nhận thấy rằng, kể từ khi chính phủ phía Bắc áp đặt cái gọi là “lệnh phong tỏa toàn diện” xung quanh Charleston và Wilmington, không chỉ các tiểu bang phía Nam rơi vào tình trạng khó khăn trong thương mại, mà ngành công nghiệp dệt may của Anh và Pháp cũng đang dần đến ngưỡng nguy kịch. Các nhà máy dệt ở Manchester đã bắt đầu hạn chế sản xuất, và tình trạng sa thải nhân viên, đóng cửa xưởng ở các thị trấn thuộc Lancashire ngày càng gia tăng. Gần đây, tôi còn nghe nói rằng ở miền bắc Pháp, đặc biệt là ở các xưởng dệt ở Roubaix và Lille, cũng đã có tin các xưởng đóng cửa liên tục trong ba tuần. Nếu không phải các quan chức địa phương đã sử dụng nguyên liệu dự trữ sẵn, có lẽ nhiều chủ nhà máy đã phải gửi đơn xin trợ cấp tài chính từ Paris từ lâu rồi.

Bộ Ngoại giao Anh đã thảo luận về việc thiết lập “con đường trung lập” để cho phép các tàu chở bông vào Lý Vật Phố từ mùa hè năm nay. Tuy nhiên, do Bộ trưởng Ngoại giao La-xơn lo ngại rằng phía Bắc có thể phản ứng mạnh mẽ, nên đề xuất này đã bị trì hoãn.

Hiện nay, với sự cố liên quan đến con tàu Trent, nếu quốc gia của Ngài có thể hành động trước về vấn đề bông, dưới danh nghĩa “bảo vệ tuyến đường vận chuyển vật tư cho quân đội chiến đấu ở Mexico”, và giải tỏa lệnh phong tỏa ở khu vực Charleston, Mobile, tôi tin rằng Bộ Ngoại giao Anh sẽ sẵn lòng xem xét đề xuất này và, với việc Mexico vi phạm nghĩa vụ trả nợ, có thể thuyết phục Bộ Ngoại giao đồng ý hợp tác với Pháp để can thiệp.

Nếu Ngài có thể cung cấp sự hỗ trợ đạo đ

Họ không chịu nói ra tên gọi của cuộc chiến đó, vậy thì tại sao chúng ta lại phải coi trọng những lệnh phong tỏa của họ chứ?

Việc buôn bán bông có vẻ như là điều nhỏ nhặt, nhưng thực tế thì một sự thay đổi nhỏ cũng có thể ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hệ thống kinh tế. Những người kinh doanh luôn rất thực dụng; nếu Đế quốc không thể bảo vệ các hoạt động kinh doanh của họ, thì họ cũng sẽ không mãi trung thành với Đế quốc.

Vì vậy, với tư cách là một người bạn cũ, tôi xin khẩn thiết mong Hoàng thượng suy xét kỹ lưỡng. Việc giải tỏa lệnh phong tỏa các cảng biển phía nam không chỉ là một hành động nhân đạo mà còn mang lại lợi ích thực tiễn; đó không chỉ là biểu hiện của lòng trung thực mà còn là bước chuẩn bị cho tương lai. Chỉ cần một sự đồng ý đơn giản, một giấy phép cho việc giao thông qua các cảng biển, và một lệnh tuần tra của hải quân, thì đã đủ để giúp ngành công nghiệp dệt may châu Âu giải quyết những khó khăn cấp bách, đồng thời cũng sẽ cho Washington thấy cái gì mới thực sự là văn minh.

Nếu Hoàng thượng có những kế hoạch khác, xin vui lòng cho biết qua thư.

Xin gửi lời kính trọng sâu sắc nhất, cùng với tình bạn chân thành nhất.

Người đồng nghiệp cũ, người bạn cũ, và người hầu trung thành nhất của Hoàng thượng,

Sir Arthur Hastings

Bộ trưởng Nội vụ của Vương quốc Liên Hiệp Anh và Ireland

Tháng 12 năm 1861, tại Bạch Sảnh

1/1 0%