lore

Chương 975: Dù Nga có tốt đến đâu, cũng không thể ngăn tôi trở về Anh để tỏa sáng và nhiệt huyết.

19,997 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Là người cai trị của quốc gia mạnh nhất thế giới vào năm 1838, sự ảnh hưởng của lễ đăng quang của Nữ hoàng Victoria không chỉ giới hạn trong nước Anh. Thực tế, ngay sau khi dự án tổ chức lễ đăng quang được chính thức thông qua vào đầu năm, các quốc gia lớn trên thế giới đã ngay lập tức quyết định cử đặc phái viên tham dự lễ diễn ra vào ngày 28 tháng 6 tại Westminster.

Vào thời điểm đó, bên cạnh các đại sứ của các quốc gia tại Anh, còn có sự tham gia của đặc phái viên của Vương quốc Bỉ – Công tước Ligne, đặc phái viên của Đế quốc Nga – Bá tước Stroganov, đặc phái viên của Vương quốc Tây Ban Nha – Công tước Osuna, đặc phái viên của Vương quốc Thụy Điển – Bá tước Nordling, đặc phái viên của Vương quốc Phổ – Công tước Wilhelm Martell zu Putbus, đặc phái viên của Ô-xơ-man Đế-quốc – Ahmed Fethi Pasha và Ibrahim Salim Pasha, v.v.

Tuy nhiên, trong số các đặc phái viên này, hai người đặc biệt thu hút sự chú ý là những đặc phái viên do Vua Pháp Louis-Philippe cử đến.

Đoàn đại biểu Pháp do Đại tướng Jean-de-Dieu Soult, Công tước xứ Dalmatia, dẫn đầu. Người này bắt đầu sự nghiệp trong các cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và đã trải qua toàn bộ các trận chiến dưới sự kiểm soát của Napoleon. Có lẽ ông là một trong 18 đại tướng đầu tiên được Napoleon phong tước, và kết cục cuộc đời của ông có thể coi là tốt nhất trong số họ.

Bức tranh “Chân dung Đại tướng Pháp Soult” do họa sĩ Mỹ George Hillie vẽ vào năm 1840 cho thấy rằng, ngoại trừ Bernadotte – người đã được phong làm Vua Thụy Điển và Na Uy và vẫn tiếp tục cai trị cho đến ngày nay – thì không có đại tướng nào khác ở châu Âu có ảnh hưởng chính trị sánh kịp Soult.

Mặc dù danh tiếng quân sự của Soult không bằng những người như Jourdan, người đã hy sinh trên chiến trường, hay Davout, người gần như không có điểm yếu về mặt quân sự, nhưng ít nhất ông cũng không gặp phải tình huống như Massena, người bị Duke of Wellington đánh bại trong các cuộc chiến tranh Peninsula và mất uy tín vào cuối đời; cũng không giống như Ney, người bị buộc tội phản quốc sau thất bại ở Waterloo và cuối cùng bị xử bắn.

Về mặt chính trị, mặc dù Soult thường xuyên thay đổi phe phái, nhưng những thủ đoạn chính trị của ông rõ ràng cao cấp hơn nhiều so với “kẻ phản bội” Marmon, người đã đầu hàng phe đồng minh chống Pháp tại Paris vào năm 1814.

Tất nhiên, Đại tướng Mortier ban đầu có cơ hội vượt qua Soult về mặt địa vị chính trị trong triều đại Tháng Bảy. Nhưng thật không may, Mortier đã qua đời trong vụ đánh bom “Cỗ máy địa ngục” nhắm vào Vua Pháp Louis-Philippe vài năm trước đó.

Kể từ khi triều đại Tháng Bảy lên nắm quyền, Soult liên tục gặp may mắn trong s

Trước áp lực dư luận ngày càng tăng từ Nhật Bản, triều đại Tháng Bảy – lo sợ bị cáo buộc “điều hành đất nước bằng vũ lực” – buộc phải “tuân theo” ý kiến của người dân và để Tô Nhĩ Đặc rời khỏi vị trí trung tâm quyền lực.

Tuy nhiên, mặc dù về mặt danh nghĩa đây chỉ là một cuộc cải tổ nội các, nhưng Chính phủ Pháp rõ ràng không từ bỏ vị đại tướng có công lao này, cũng không tận dụng cơ hội này để trừng phạt các tướng lĩnh cũ của Napoleon, như nhà Bourbon đã làm sau khi phục hoàng.

Dưới sự điều phối khéo léo của Lưu Ý – “bậc thầy trong việc xử lý các tình huống nhạy cảm” – Tô Nhĩ Đặc vẫn giữ được mọi danh hiệu cao quý: ông vẫn là Công tước xứ Dalmatia, vẫn là đại tướng và anh hùng chiến tranh của Pháp, vẫn được quân đội tôn trọng sâu sắc. Chỉ có điều, ông không còn chủ trì các cuộc họp bộ trưởng, không còn xuất hiện trước công chúng trong các cuộc tranh luận tại quốc hội, và cũng không phải chịu trách nhiệm chính trị cho bất kỳ hành động đàn áp nào trong nước.

Xét ở một góc độ nào đó, cách Lưu Ý xử lý Tô Nhĩ Đặc có nhiều điểm tương đồng với cách Vua William IV đã đối xử với Arthur Sir vào những năm trước đó.

Điểm duy nhất khác biệt giữa hai người là vị thế chính trị của Arthur tại Anh thực sự không cao bằng Tô Nhĩ Đặc tại Pháp; đến nỗi mọi người suýt nữa quên mất sự tồn tại của ông ấy ở Nga.

Quốc hội Anh có thể quên mất sự tồn tại của Arthur Hastings, nhưng Chính phủ Pháp luôn nhớ rằng họ vẫn còn có Tô Nhĩ Đặc.

Điều này có thể được thấy qua việc Lưu Ý đã trao cho Tô Nhĩ Đặc những vinh dự lớn lao, và cử ông đại diện cho mình tham dự lễ đăng quang của Nữ hoàng Victoria. Sau all, phó đại sứ của đoàn đại biểu Pháp lần này chính là con trai của Lưu Ý – Hoàng tử Nemours, Thái tử Pháp.

Tất nhiên, các đặc sứ của các quốc gia khác, mặc dù không có những câu chuyện đặc biệt như Đại tướng Tô Nhĩ Đặc, nhưng không nghi ngờ gì nữa, họ cũng đều là những quý tộc hàng đầu có địa vị cao trong các quốc gia của mình.

Đặc sứ của Phổ, Công tước Putbus, xuất thân từ dòng họ Slav-Lüneburg lâu đời, một gia tộc danh giá ở vùng Pomerania. Cha của ông từng giữ chức vụ đại tướng trong triều đình Thụy Điển trong thời kỳ Chiến tranh Ba Mươi Năm.

“Hình ảnh: Công tước Wilhelm Martell von Putbus mặc đồng phục phó tổng chỉ huy Phổ”

Trong thời kỳ các cuộc chiến tranh của Napoleon, Công tước Putbus từng giữ chức vụ Toàn quyền Pomerania của Thụy Điển. Sau năm 1815, lãnh địa thừa kế của gia tộc Putbus được chuyển sang thuộc v

Chính vì lý do này mà việc Vua Phổ Friedrich Wilhelm III cử ông tham dự lễ đăng quang là hoàn toàn phù hợp.

Còn về Bá tước Stroganov, sứ giả đặc biệt của Nga, gia tộc ông ta có lịch sử truyền thống kéo dài từ thời kỳ Đại công quốc Moscow, và được coi là tầng lớp quý tộc giàu kinh nghiệm nhất của Nga Sa hoàng. Khi Đại công Vasily II của Moscow bị người Tatar giam cầm, chính họ là những người đã bỏ tiền ra để chuộc ông ta trở về.

Trong thời đại trị vì của Ivan IV, họ đã tài trợ cho cuộc chinh phục Siberia của Nga, và để đền đáp, Ivan IV đã ban tặng cho gia tộc Stroganov những vùng đất rộng lớn thuộc lưu vực sông Kam và sông Chusovaia ở biên giới phía đông.

Vào đầu thế kỷ 17, khi Ba Lan can thiệp vào Nga, gia tộc Stroganov không chỉ không đổi phe sang phía Ba Lan mà còn cung cấp nhiều khoản tài chính và hỗ trợ quân sự cho Chính phủ quốc gia Nga. Nhằm bày tỏ lòng biết ơn, Nga Sa hoàng đã phong cho họ danh hiệu “người có uy tín” vào năm 1610 và cho phép họ thêm hậu tố “vich” sau tên cha của mình. Cần biết rằng, vào thời điểm đó ở Nga, đây là quyền đặc quyền chỉ dành cho hoàng gia.

Cùng với danh hiệu mới này, gia tộc Stroganov được hưởng một loạt quyền lợi đặc biệt chưa từng có trước đây: chỉ được xét xử bởi tòa án hoàng gia,

có quyền thành lập thị trấn và pháo đài, sở hữu lực lượng vũ trang hợp pháp và quyền đúc pháo, tổ chức các chiến dịch quân sự chống lại những người cai trị Siberia, cũng như được phép thực hiện giao thương miễn thuế với các quốc gia châu Á.

Trong suốt hai thế kỷ tiếp theo, gia tộc Stroganov đã sử dụng lực lượng vũ trang tư nhân để chinh phục nhiều vùng đất ở Siberia và di dời người nông dân Nga đến đó để khai phát. Họ phát triển nông nghiệp, nghề săn bắn, ngành muối, ngành cá, khai thác mỏ và luyện kim tại những khu vực này, đồng thời xây dựng rất nhiều thị trấn, pháo đài và nhà thờ Chính thống giáo.

Chính vì lý do này mà từ thời điểm đó trở đi, gia tộc Stroganov dần trở thành tập đoàn thương mại giàu có nhất Nga và là nguồn tài chính đáng tin cậy nhất của Nga Sa hoàng.

Khi Peter I muốn phát triển hải quân, họ đã tặng ngay cho ông bốn tàu chiến. Trong thời kỳ Chiến tranh Bắc Cực, khi tình hình tài chính gặp khó khăn, họ vẫn không ngần ngại cung cấp sự hỗ trợ tài chính lớn lao. Chỉ từ những việc này thôi cũng có thể thấy gia tộc này giàu có đến mức nào; dù là những người thuộc tầng lớp “trung lưu” như Bá tước Darama, họ cũng không dám nói rằng mình có thể dễ dàng tặng bốn tàu chiến cho Hải quân Hoàng gia, huống chi là tài trợ cho Anh trong một cuộc chiến.

Khi Arthur còn ở Nga

Theo lời anh ta kể, mục đích thành lập học viện nghệ thuật này chính là để dạy nghệ thuật và thủ công cho 360 người, bao gồm cả trẻ em và nông nô, với hy vọng sẽ nuôi dưỡng ra những kiến trúc sư và nghệ sĩ xuất sắc cho Nga.

Arthur vẫn nhớ rõ khoảnh khắc đầu tiên anh gặp Bá tước Sergei Stroganov; nếu không ai chỉ báo trước, anh thực sự không thể tin được rằng người đàn ông trung niên có vẻ gầy yếu này lại sở hữu tài sản lên tới hơn 60 triệu ruốb (tương đương khoảng 6,4 triệu bảng Anh) và 40.000 nông nô – một tỷ phú thực sự.

Bức “Chân dung Bá tước Sergei Stroganov” do họa sĩ người Ý Pietro de Rossi vẽ vào những năm 1820. Trước đó, Arthur luôn không hiểu rõ tầng lớp thượng lưu trong mắt Bá tước Daramo là như thế nào, cho đến khi anh gặp người đàn ông này.

Khi Bá tước dẫn Arthur đi tham quan, Arthur đã nghe thấy bản thân ông ấy nói rằng: “Vào những năm thu hoạch kém, thu nhập hàng năm có thể đạt khoảng 3 triệu ruốb (tương đương 320.000 bảng Anh); còn nếu mùa màng đặc biệt tốt thì có thể lên tới 5 triệu ruốb (khoảng 530.000 bảng Anh).”

Nhưng khi nghe câu nói đó, Arthur đã nghi ngờ mình nghe nhầm, sau đó lại nghĩ rằng có lẽ ông ấy tính toán sai số trong con số đó.

Cho đến một lần nọ, Bá tước mời Arthur đến dinh thự Stroganov trên đại lộ Neva ở Saint Petersburg. Khi nhìn thấy bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật trải khắp căn nhà, Arthur mới nhận ra rằng vấn đề không nằm ở thính lực của mình hay khả năng tính toán của Bá tước, mà là bởi vì trí tưởng tượng về của cải của anh quá nghèo nàn.

Bộ sưu tập của gia đình Stroganov không chủ yếu tập trung vào các trường phái hội họa bản địa Nga, mà thay vào đó, họ đã có hệ thống đưa vào những tác phẩm nghệ thuật từ Ý, Pháp và Hà Lan. Trong số đó không chỉ có các bức tranh thời kỳ Phục Hưng từ Ý, mà còn có các bức tranh sơn dầu theo trường phái Académie của Pháp, cùng với một số lượng lớn bản in cổ điển và tài liệu thư viện. Điều khiến Arthur càng ngạc nhiên hơn nữa là một phần lớn các tác phẩm này không phải được mua thông qua đấu giá hay nhận tặng qua đường ngoại giao, mà là do các nghệ sĩ được gia đình Stroganov tài trợ lâu dài sáng tác trực tiếp và để lại dưới tên của gia đình họ.

Trong số tất cả các trường phái hội họa, gia đình Stroganov đặc biệt yêu thích phong cách Baroque. Ngày hôm đó, Arthur đã được chiêm ngưỡng ít nhất ba bức tranh thật của Peter Paul Rubens; ngay cạnh đó là một số bức chân dung do học trò của Rubens, Anthony van Dyck, vẽ. Ngoài ra, các tác phẩm của Rembrandt, Poussin, Raphael và Laurent cũng được trưng bày ở đây một cách dồi dào, như thể chúng là những th

Mặc dù trên thị trường nghệ thuật, không phải tất cả các bức tranh của các danh họa thời Baroque đều có thể được bán với giá cao ngất ngưởng, nhưng ngay cả những bức tranh rẻ tiền nhất trong số đó, chẳng hạn như các bức chân dung nửa thân của Rembrandt, cũng có thể dễ dàng được bán với giá 1000 bảng Anh tại London.

Tuy nhiên, điều gây ấn tượng sâu sắc nhất với Arthur về Bá tước Sergei Stroganov không phải là bộ sưu tập nghệ thuật của ông ta, mà là câu nói nhẹ nhàng của ông: “Tôi không nghĩ việc sưu tầm nghệ thuật có gì đặc biệt cả.”

Chủ nghĩa độc tài ở Nga… thực sự quá độc ác!

Nếu không phải vì quyết tâm phục vụ nhân dân Anh của Ngài Arthur quá vững vàng, có lẽ ông đã không thể chống lại sự cám dỗ và quyết định ở lại Nga mãi mãi.

Dù sao thì, Bá tước Sergei Stroganov cũng đã nói rõ rằng, những người giàu có như ông ta, trong gia đình ông ta còn có hai người nữa.

So với gia tộc Stroganov, ngay cả hoàng gia Anh cũng trở nên nhỏ bé không kém.

Cần biết rằng, ngân sách hàng năm được Quốc hội thông qua cho Hoàng gia Victoria chỉ là 385.000 bảng Anh; ngay cả khi cộng thêm thu nhập từ các lãnh địa của Hoàng gia Lancaster, con số đó cũng chỉ khoảng 450.000 bảng Anh mà thôi.

Và 450.000 bảng Anh cũng chỉ ngang bằng với thu nhập cá nhân của Bá tước Sergei Stroganov mà thôi.

Nhưng dù chủ nghĩa độc tài ở Nga có độc ác đến đâu, vì lần này ông ta đến đây với tư cách khách mời, Arthur vẫn phải thể hiện lòng hiếu khách của mình.

Hơn nữa, dù ông có không muốn tiếp đãi họ đi nữa, ông cũng không thể làm khác được.

Dù sao thì, công tác an ninh cho lễ đăng quang cũng do Bộ trưởng Nội vụ Lord John Russell đứng ra chỉ huy, và Arthur chính là người phụ trách thực hiện công việc này.

Nếu xảy ra bất kỳ sai sót nào trong quá trình thực hiện, Arthur tin rằng, dù Victoria có tha thứ cho ông và giữ nguyên chức vụ Thị thực viên không thường trú của ông trong triều đình, thì Nội các và Quốc hội chắc chắn sẽ không tha thứ cho ông đâu.

Đối với Arthur mà nói, việc chỉ giữ một chức vụ Thị thực viên không thường trú cũng chính là một sự xúc phạm đến phẩm giá của ông.

Ông đã nghe nói rằng, có một số “người tốt có ý đồ xấu” đang bàn tán sau lưng ông, nói rằng Arthur Hastings chỉ là một kẻ nịnh hót, chỉ biết làm hài lòng Nữ hoàng mà thôi.

Điều đó thật là vô lý!

Nhưng nói lại một lần nữa, nếu vào lúc này mà ông làm hỏng công tác an ninh, để Bộ Nội vụ tìm cơ hội loại bỏ ông, trong khi ông vẫn giữ nguyên chức vụ Thị thực viên không thường trú trong triều đình, thì những lời chỉ trích ác ý đối với ông ch

Thật là xấu hổ cho Ngài Arthur!

  Mặc dù hiện tại thu nhập của ông ấy vẫn chưa đạt mức 40.000 bảng Anh – mức thu nhập đặc trưng của tầng lớp trung lưu – và chỉ là một nông dân ở York đang vật lộn với cuộc sống thiếu thốn, nhưng đối với ngài Arthur, người luôn có những hoài bão lớn lao, tiền bạc đã không còn là yếu tố quan trọng nữa.

  Ngài Arthur Hastings muốn được ghi danh vào sử sách, muốn để lại dấu ấn trong các bài giáo khoa lịch sử của Đại Anh.

  Vì vậy, những cáo buộc sai sự thật nhắm vào ngài Arthur khiến ông ấy cảm thấy đau khổ hơn cả việc tác phẩm của mình bị sao chép trái phép.

  Các bạn ơi, người trong sáng sẽ tự minh oan, kẻ xấu xa sẽ tự bị lên án; công lý luôn nằm trong lòng mỗi người, và lịch sử sẽ đánh giá công việc của tôi.

  Sau khi hoàn thành công việc tại Cung điện Buckingham hôm nay, tôi sẽ ghé qua Phố Hải quân để xem bản thảo của Luís đã được viết đến đâu rồi, và cũng nhờ nhà xuất bản Hoàng gia chuẩn bị sẵn một vài bài viết nhằm minh oan cho ngài Arthur.

  Đang suy nghĩ như vậy, bỗng nhiên Arthur cảm thấy ánh nắng trước mặt mình như bị ai đó che khuất.

  Một cách vô thức, ông ấy ngẩng đầu lên, và trước khi tầm nhìn của mình trở nên rõ ràng, ông đã nhìn thấy một tấm vải màu đen quen thuộc.

  “Hoàng hậu bệ hạ.”

  Arthur gần như mách máy đứng thẳng dậy, lùi lại một bước và cúi đầu chào hỏi.

  Victoria đứng trước mặt Arthur, vẻ mặt của bà đã bình tĩnh hơn nhiều so với lúc ở phòng đọc sách trước đó.

  “Ngài Arthur, ngài đã chờ lâu chưa?”

  “Không, bệ hạ.” Arthur cười một cách e ngại và lắc đầu: “Và nhân cơ hội này, tôi cũng có thể suy nghĩ kỹ hơn về kế hoạch an ninh.”

  Nói đến đây, có vẻ như Arthur muốn che giấu những suy nghĩ riêng của mình, ông tiếp tục nói: “Bệ hạ có thấy chiếc vương miện được chế tác riêng cho bệ hạ không? Hôm trước tôi tình cờ đi ngang qua công ty trang sức hoàng gia Rundell & Bridge, nên đã vào tham quan. Thật sự, chiếc vương miện đó vô cùng đẹp đẽ.”

  **“Chiếc vương miện đăng quang của Nữ hoàng Victoria”**

  Thực ra, theo truyền thống đăng quang của Anh kể từ thời Vua Charles II, chiếc vương miện Saint Edward mới là lựa chọn phù hợp cho nghi thức đăng quang. Tuy nhiên, do kích thước và trọng lượng của chiếc vương miện này quá lớn đối với Victoria, nên họ đã phải chế tạo một chiếc vương miện mới phù hợp với nữ giới.

  Ban đầu, Victoria không mấy hứng thú với việc này, nhưng khi nghe Arthur nhắc đến chiếc

“Phần chính của chiếc vương miện đã hoàn thành rồi, bây giờ chỉ cần gắn những viên ngọc quý quan trọng lên thôi.” Arthur nói với nụ cười: “Mặc dù chiếc vương miện được dự định sẽ sử dụng tổng cộng 3093 viên ngọc, nhưng viên hồng ngọc Đại Vương Đen được gắn ở phía trước vẫn là viên ngọc lấp lánh nhất.”

Victoria có vẻ bị câu nói của Arthur chinh phục: “Tôi nghe nói họ còn định lấy viên ngọc lam từ chiếc nhẫn Edward the Confessor ra và gắn vào vương miện của tôi nữa?”

“Đúng vậy, viên ngọc lam đó sẽ được đặt ngay phía dưới viên hồng ngọc Đại Vương Đen.” Arthur nói, giọng điệu dường như chậm lại một chút: “Người ta ở Rundell-Bridge đã giải thích với tôi rằng việc bố trí như vậy là để thể hiện sự tôn trọng đối với truyền thống. Viên ngọc Đại Vương Đen tượng trưng cho sự tiếp nối quyền lực hoàng gia và sức mạnh thế tục, trong khi viên ngọc lam từ chiếc nhẫn Edward the Confessor lại biểu tượng cho lòng sùng đạo. Hai viên ngọc này đặt đối diện nhau, vừa vặn nằm trên trục giữa của vương miện.”

Victoria lắng nghe say sưa, cô gần như không thể kiềm chế được niềm háo hức của mình: “Tôi thật sự muốn sớm được nhìn thấy chiếc vương miện đó trông như thế nào… Chỉ nghe bạn mô tả thôi đã khiến tôi rất hứng thú rồi.”

Arthur cười ha hả và nói: “Việc đeo vương miện quả thực rất thú vị, nhưng bạn cũng cần chuẩn bị tâm lý cho việc rằng buổi lễ đăng quang có thể sẽ rất mệt mỏi đấy. Bạn còn nhớ ngày bạn lên ngôi không? Hôm đó có hơn hai nghìn người đến hôn tay bạn đấy!”

Victoria đáp: “Tất nhiên là nhớ rồi. Tước công Mạc BẬn còn nói rằng tất cả các khóa kim cương của ông ấy đều bị đè mất, đầy rẫy những huy chương và dải ruy băng rơi xuống đất; các cấp bậc quân sự của một số tướng lĩnh cũng bị xé rách khi họ cố gắng đeo chúng.”

Arthur vừa kể lại vừa đùa cợt: “Dù ngày hôm sau trời mưa lớn, nhưng mọi người vẫn đến dự buổi tiệc đúng giờ hơn cả buổi họp của Thượng viện đấy. Tôi vẫn nhớ, hôm đó bạn mặc toàn đồ đen, phía bên phải ngực đeo dải ruy băng của Huân chương Garter, phía bên trái ngực đeo huy chương sao, cánh tay trái đeo vòng đeo. Trang phục đó chắc hẳn rất nặng phải không?”

“Lúc đó tôi đã không còn cảm nhận được trọng lượng nữa… Tâm trí tôi hoàn toàn đang suy nghĩ xem nên đeo Huân chương Garter ở đâu mới phù hợp.” Victoria cười khúc khích: “Lúc đó Công tước Norfolk đang ở bên cạnh tôi, vì vậy tôi liền hỏi ông ấy: ‘Nhưng thưa Công tước, nếu tôi đeo huy chương sao ở bên trái ngực, thì tôi nên đeo Huân chương Garter ở đâu đây?’ Công t

Nói đến đây, Victoria bỗng dừng lại một chút: „Nhưng —— dù tổng thể mọi việc diễn ra suôn sẻ vào ngày hôm đó, nhưng ——“

Arthur hỏi: „Cô đang nói về chuyện của Lord Lindhurst phải không?“

Victoria có vẻ hơi không thoải mái: „Lúc đó tôi thực sự không cố ý đâu; chỉ là tôi ngồi quá lâu mà thôi. Khi anh ấy tiến lại gần, tôi đang điều chỉnh tư thế ngồi, và có lẽ… tôi thực sự hơi sợ hãi anh ấy. Vì vậy, tôi không kìm được mà ngồi thẳng dậy; mọi người đều nói rằng lúc đó tôi trông giống như thể vừa thấy một con rắn vậy. Kết quả là, Lord Lindhurst lập tức đỏ mặt, khuôn mặt anh ấy trở nên u ám như một con quỷ vậy…“

Arthur không cần hỏi cũng biết tại sao Victoria lại ghét Lord Lindhurst đến vậy.

Về cơ bản, có lẽ là do cô ấy luôn chịu ảnh hưởng của phe Whig trong nhiều năm, và bản thân Lord Lindhurst cũng là người thường xuyên thay đổi lập trường.

Trong những năm đầu, ông ta là một người theo chủ nghĩa cộng hòa, một luật sư cấp tiến sánh ngang với Lord Bramham. Lúc đó, ông ta coi thường những người thuộc phe Whig vì họ cho rằng các ý tưởng cải cách của họ quá ôn hòa. Nhưng sau khi bước vào tuổi trung niên, Lord Lindhurst lại bất ngờ quay sang ủng hộ đảng Bảo thủ.

Lúc đó, Bộ trưởng Ngoại giao của đảng Bảo thủ, Viscount Castlereagh, đã nhận xét về Lord Lindhurst: “Tôi cảm nhận thấy trong ông ta có phần tính trung dung; tôi muốn đặt bẫy để dụ ông ta vào, sử dụng ‘phô mai Cheshire’ làm mồi nhử (ý tôi là muốn dùng chức vụ Tổng thẩm phán Cheshire để mua chuộc ông ta).”

Và thực tế đã chứng minh rằng nhận định của Castlereagh về Lord Lindhurst hoàn toàn chính xác. Ông ta đã với tâm trạng biết ơn mà bước vào “bẫy” mà Castlereagh đã đặt ra. Sự bất đồng giữa ông ta và phe Whig không nằm ở quan điểm chính trị, mà nằm ở tương lai sự nghiệp của ông ta.

Kể từ đó, vị luật sư cấp tiến từng nổi tiếng cùng với Lord Bramham này đã trở thành một trong những người ủng hộ đảng Bảo thủ trung thành nhất, và điều này cũng khiến ông ta trở thành một trong những người mà Lord Bramham ghét nhất. Cho đến ngày nay, hai bậc thầy trong giới luật pháp Anh này mỗi khi gặp nhau tại Thượng viện vẫn thường xuyên tranh cãi với nhau.

Tuy nhiên, nếu Lord Lindhurst không phải là người như vậy, thì ông ta cũng sẽ không bao giờ bổ nhiệm Đức Thái Lai làm thư ký cá nhân của mình.

Nhưng có lẽ điều khiến Victoria cảm thấy ghê tởm Lord Lindhurst nhất chính là việc vài năm trước, Công tước Cumberland đã đến thăm bà Lady Lindhurst và nói những lời thiếu lịch sự với bà. Khi sự việc này được

1/1 0%