lore

Chương 539: Mưu đồ của Göttingen

14,073 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

——Clemens von Mạt Ni Tây

Đại học Göttingen, hôm nay trời quang đãng rực rỡ.

Ngoài cửa văn phòng hiệu trưởng, ban công bằng đá được treo đầy các bức chân dung của các vị hiệu trưởng tiền nhiệm và những giáo sư nổi tiếng.

Những bức tranh này có thể là tranh sơn dầu hoặc tranh khắc, qua chúng, Đại học Göttingen tự hào khoe khoang truyền thống học thuật lỗi lạc của mình như một ngôi trường danh tiếng truyền thống của Đức.

Nền hành lang được lát bằng những tấm đá dày, tiếng bước chân vang vọng trong không gian yên tĩnh ấy.

Mặc dù vào những ngày làm việc, trước cửa văn phòng hiệu trưởng luôn có nhiều người ra vào, nhưng vào Chủ nhật, nơi đây thường không có ai đến thăm.

Tuy nhiên, hôm nay là một ngoại lệ. Khi tiếng bước chân dần tiến gần, bóng dáng của một người trẻ xuất hiện ở cuối hành lang.

Hôm nay, Bismarck đã trang điểm một cách chỉn chu; anh ta đặc biệt mặc bộ đồ lịch sự mà chỉ mặc duy nhất một lần trong lễ khai giảng.

Bộ vest dài được may rất tỉ mỉ, những chiếc khuy bạc phía trước áo được anh ta lau cho lấp lánh; chiếc cà vạt lụa đen mà anh ta đã mất nhiều công sức để tìm mua khắp các con phố ở Göttingen được đeo cùng chiếc áo sơ mi cổ cao trắng tinh; trong túi áo khoác còn lộ ra nửa chuỗi đồng hồ bỏ túi sang trọng.

Anh ta dừng lại trước cửa văn phòng hiệu trưởng, nhìn thấy huy hiệu trường được đặt trên khung cửa cùng khẩu hiệu tiếng Latinh “In publica commoda” (Vì lợi ích công cộng), Bismarck cảm thấy cánh tay mình nặng trĩu khi muốn gõ cửa.

Anh ta hít một hơi thật sâu, lặp lại bài phát biểu mà mình đã chuẩn bị từ tối hôm trước trong đầu, rồi mới dám gõ cửa.

Đập… đập… đập!

“Giáo sư Hastings, tôi là Otto von Bismarck, sinh viên năm hai khoa Luật. Xin phép tôi vào được không ạ?”

Tuy nhiên, sau một lúc dài, Bismarck vẫn không nghe thấy tiếng ai trả lời từ bên trong văn phòng.

Anh ta nhíu mày và gõ cửa lần nữa; không ngờ lần này, cánh cửa lại bị mở ra ngay.

Đây là lần đầu tiên Bismarck được nhìn thấy văn phòng hiệu trưởng như thế nào; thường thì anh ta chỉ đến phòng xét xử của ủy ban kỷ luật học sinh mà thôi.

Điều đầu tiên thu hút sự chú ý của anh là chiếc bàn làm việc bằng gỗ óc chó dày cộm, mặt bàn nhẵn bóng và rộng rãi, trên đó đặt đầy bình mực, bút lông vũ, thư từ và những cuốn sách được đóng bìa rất cẩn thận. Phía sau bàn là một chiếc ghế da màu đậm, trên tay vịn ghế có in rõ những họa tiết tinh xảo do việc khắc họa tạo nên.

Hai bên văn phòng là những kệ sách cao, trên kệ đầy ắp các tác phẩm học thuật về luật pháp, triết học, lị

Bên cạnh kệ sách, còn có một cái thang nhỏ; có lẽ nó được đặt ở đó để giúp Hiệu trưởng Hasting dễ dàng lấy sách từ những ngăn cao hơn. Mặc dù ông ta cũng là một người cao lớn, giống như Bismarck, nhưng chiếc kệ sách cao ba mét vẫn khiến ông ta gặp khó khăn trong việc lấy sách.

Khi thấy Arthur không có trong văn phòng, tâm trạng hơi lo lắng của Bismarck nhanh chóng được xua tan. Ông ta bước vào văn phòng, đôi khi lấy một cuốn sách ra đọc, đôi khi lại ngồi xuống chiếc ghế lưng cao dành riêng cho hiệu trưởng và nhàn rỗi vuốt ve quả địa cầu nhỏ trên bàn.

“Hmm? Đây là cái gì vậy?”

Bismarck giơ một ngón tay lên để dừng quả địa cầu đang quay; ông ta nhận thấy trên đó có vài địa điểm được đánh dấu bằng mực, xếp theo thứ tự từ bắc xuống nam gồm: cảng Devon và Plymouth của Anh, quần đảo Cape Verde thuộc địa của Bồ Đào Nha, Rio de Janeiro của Brazil, Montevideo của Uruguay, Puerto Blanco và Buenos Aires của Argentina.

Tuy nhiên, những đường đánh dấu này có lẽ đã được vẽ từ rất lâu trước, bởi vì mực trên chúng đã khô cạn hoàn toàn.

Điểm đánh dấu mới nhất trên quả địa cầu lại nằm ở đảo Tierra del Fuego – điểm cực nam của Nam Mỹ.

Khi Bismarck đang suy nghĩ xem những vòng tròn kỳ lạ này có ý nghĩa gì, ánh mắt ông ta bỗng nhiên nhìn thấy một lá thư được niêm phong bằng sáp đen trên bàn. Trên bìa thư, nét chữ rất rõ ràng và kiêu ngạo; trên đó viết bằng tiếng Anh: “Gửi từ đảo Tierra del Fuego.”

“Ha?” Bismarck gãi đầu.

Chẳng lẽ Arthur Hasting có mối liên hệ gì đó với người bản địa ở đảo Tierra del Fuego sao?

Hay là ông ta có công việc kinh doanh gì đó ở Nam Mỹ?

Có thể ông ta là một kẻ buôn bán nô lệ?!

“Ôi Chúa ơi!”

Sự thật đáng ngạc nhiên này khiến ngay cả một người đàn ông mạnh mẽ như Bismarck cũng không khỏi bất ngờ.

Một người Anh… thực ra lại là một kẻ buôn bán nô lệ!

Chẳng phải báo chí đã đưa tin Chính phủ Anh đã tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ trên toàn quốc và các thuộc địa hay sao?

Làm sao ông ta có can đảm làm việc đó được?

Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, Bismarck lại nghĩ rằng đây có thể là một phi vụ kinh doanh có lợi.

Bởi vì ông ta nhớ rằng khi Chính phủ Anh bãi bỏ chế độ nô lệ, chính phủ đã chi tiền mua lại những nô lệ từ tay các chủ nô. Nếu ông ta có thể mua lại một số nô lệ trước khi việc mua lại hoàn tất, ông ta hoàn toàn có thể kiếm được một khoản lợi nhuận đáng kể.

Việc Bismarck nghĩ đến điều này cũng không có gì lạ, bởi vì hơn mười năm trước, khi Chính phủ Phổ tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ, một số lãnh

Năm 1807, Phổ đã ban hành “Sắc lệnh Tháng Mười”, trong đó quy định rằng nông dân không còn là tài sản của các lãnh chúa nữa; họ được quyền tự do quản lý đất đai của mình và có thể di cư hay kết hôn một cách tự do.

Tuy nhiên, để bù đắp cho những thiệt hại mà giới quý tộc đất đai phải gánh chịu, nông dân buộc phải mua lại quyền sử dụng đất vốn thuộc về lãnh chúa thông qua các hình thức thanh toán khác nhau, bao gồm việc mua lại đất đai, lao động công ích hoặc trả tiền mặt.

Trong đó, hình thức mua lại đất đai có nghĩa là nông dân có thể từ bỏ một phần quyền sử dụng đất để đổi lấy quyền sở hữu hoàn toàn đối với phần đất còn lại. Ví dụ, nếu một nô lệ canh tác trên 100 mẫu đất, anh ta có thể từ bỏ 50 mẫu đất để đổi lấy quyền sở hữu hoàn toàn đối với 50 mẫu đất còn lại. Đây là hình thức thanh toán phổ biến, nhưng vì không phải tất cả các nô lệ đều sở hữu 100 mẫu đất, nên vẫn có người chọn hình thức thanh toán bằng lao động công ích hoặc tiền mặt.

Hình thức thanh toán bằng lao động công ích đúng như cái tên của nó, tức là nông dân cung cấp lao động miễn phí cho lãnh chúa trong một số năm nhất định để đổi lấy tự do.

Còn hình thức thanh toán bằng tiền mặt thì đơn giản hơn nhiều: chỉ cần trả tiền để lấy lại tự do, có thể thanh toán một lần duy nhất hoặc chia thành nhiều kỳ thanh toán.

Tuy nhiên, đa số nông dân không thể chuẩn bị đủ tiền một lúc, vì vậy hình thức thanh toán chia thành 20 hoặc 30 kỳ, tương tự như mô hình trả nợ hiện đại, mới là lựa chọn phổ biến.

Tuy nhiên, một số lãnh chúa Junker do tình hình tài chính không tốt, nếu có người sẵn lòng trả cho họ 70% đến 80% số tiền cần thanh toán một lần, họ cũng sẵn lòng chuyển nhượng các hợp đồng vay nợ của những nông dân này.

Chi phí tổng thể của dự luật mua lại nô lệ mà Anh công bố trong năm nay lên tới hơn 10 triệu bảng Anh, vì vậy đa số chủ nô lệ cũng nhận được khoản bồi thường được chia thành nhiều kỳ từ chính phủ.

Do đó, Bismarck đã dám đoán rằng chắc chắn sẽ có người tham gia vào hoạt động trao đổi tiền mặt lấy hợp đồng vay nợ này. Có thể nói, dự đoán của Bismarck hoàn toàn đúng; hiện nay tại Anh, có rất nhiều người đang tham gia vào loại hình kinh doanh này, và chính xác hơn, những người tham gia đều đến từ Khu tài chính London. Các ngân hàng gia đều tin rằng loại hình bồi thường được chính phủ bảo lãnh này khó có thể xảy ra tình trạng nợ không được thanh toán; loại hình bồi thường này có uy tín ngang hàng với trái phiếu chính phủ Anh, đều được coi là những sản phẩm t

Mặt khác, đây cũng là một sự xem xét về mặt chính trị. Khi bắt đầu sự nghiệp, Arthur đã nổi tiếng nhờ vào việc đánh đập các hoạt động buôn bán nô lệ của Fred và Barbary pirates. Chỉ vì vài đồng bạc rẻ tiền mà phải tự làm hại bản thân mình – điều này là điều mà một quý ông đàng hoàng người York không bao giờ làm được.

Chưa kể, gần đây anh ta còn phát hiện ra một con đường làm giàu mới. So với việc kinh doanh các hợp đồng mua lại nô lệ, việc ủng hộ cuộc cách mạng Ý không chỉ mang lại danh tiếng mà còn thu nhập nhanh hơn nhiều.

Nhưng với tư cách là một thanh niên 18 tuổi người Đức, Bismarck chắc chắn không thể tưởng tượng được rằng trong lĩnh vực ngoại giao mà anh ta mong muốn tham gia, những nhà ngoại giao có vẻ ngoài ngốc nghếch kia đang thảo luận về những thương vụ còn kiếm nhiều tiền hơn cả nạn buôn bán nô lệ bằng tiếng Pháp.

Trong quá trình ủng hộ phong trào thanh niên Ý, ông August Thi Na Đức, phó thứ trưởng Bộ Ngoại giao Anh, đã quyên góp 3000 bảng Anh; ông Wilhelm von Cremmer, cố vấn văn hóa của Đại sứ quán Đế quốc Áo tại Pháp, đã quyên góp 4000 bảng Anh; và Arthur Hastings, được coi là “lương tâm” của giới ngoại giao châu Âu, đã quyên góp 2500 bảng Anh.

Còn lý do tại sao Arthur chỉ nhận được 2500 bảng Anh là bởi vì anh ta cảm thấy áy náy, nên sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, anh ta vẫn đã bí mật tặng thêm 500 bảng tiền mặt cho Garibaldi và dặn dò anh ta rất kỹ: đừng bao giờ tiết lộ mối liên hệ giữa Bộ Ngoại giao Anh và phong trào thanh niên Ý.

Tin tức mới nhất sẽ được đăng đầu tiên trên trang web sách số 69!

Và trước khi lên đường, Garibaldi cũng không quên cảm ơn Arthur và thành thật xin lỗi thay cho Ma Chí Ni: “10.000 franc này đã giúp chúng tôi rất nhiều. Xin lỗi, Arthur, trước đây chúng tôi không nên nghi ngờ bạn.”

Bismarck nhìn chằm chằm vào chiếc phong bì kỳ lạ đó trên bàn trong một lúc lâu, cảm thấy ngón tay mình ngứa ngáy; anh ta thực sự muốn biết liệu người giám thị đó đang làm gì bí mật ngoài đời thực.

Anh ta do dự mãi, rồi bỗng nhiên nghe thấy tiếng cười vui vẻ từ bên ngoài cửa sổ phía sau mình.

Bismarck lén lút đi đến bên cửa sổ, kéo rèm ra một khe hở và thấy hai quý ông đang hút thuốc trên con đường rợp bóng cây bên ngoài.

Một trong số họ là ông Arthur Hastings, còn người kia có vẻ hơi lạ mặt, không biết xuất thân từ đâu.

Nhưng nhìn từ cách họ trò chuyện, người đó cũng chắc chắn là người Anh.

Mặc dù Bismarck không mấy quan tâm đến các môn học chuyên ngành, nhưng anh ta lại là một thiên tài v

Bismarck nằm dựa vào bức tường, áp tai vào cửa sổ qua tấm rèm, cố gắng nghe rõ hơn những gì hai người kia đang nói.

“Arthur, có vẻ như bạn đã thích nghi khá tốt ở Göttingen. Nhìn cái áo choàng đen của bạn kìa, trông thật giống một học giả.”

“Nói thật lòng, tôi vẫn thích bộ đồng phục của Sở Cảnh sát Scotland Yard hơn; bộ đồ đó trông sang trọng và năng động hơn nhiều so với chiếc áo choàng này.”

“Hahaha! Không sao đâu, bạn đang chuẩn bị thử nghiệm kế hoạch cải cách cảnh sát của mình ở Göttingen mà. Bề ngoài là hội sinh viên, nhưng thực chất lại là một tổ chức cảnh sát… Làm sao bạn lại nghĩ ra ý tưởng này được?”

“Điều đó không có gì lạ đâu. Đối với cảnh sát mà nói, việc đưa người của mình vào các tổ chức đối lập là điều rất thông thường. Hơn nữa, kinh nghiệm của tôi ở Pháp cũng đã cho tôi nhiều ý tưởng. Ông Victor đã nói với tôi rằng, trong những tổ chức cách mạng đó, có rất nhiều người leo lên vị trí lãnh đạo chỉ để sau đó phản bội họ, từ đó giành được chức vụ hay tiền bạc để sống.”

“Vậy bạn định áp dụng kinh nghiệm của Pháp, chứ không phải trí tuệ của Anh Quốc, đúng không?”

“Ừm… Theo tôi, các quốc gia lục địa và những quốc gia biển như Anh Quốc vẫn có những điểm khác biệt. Vì vậy, kinh nghiệm của Pháp có lẽ sẽ phù hợp hơn với Vương quốc Hanover. Hội sinh viên ở Göttingen chỉ là một dự án thử nghiệm mà thôi. Nếu thành công, sau này tôi sẽ đề xuất với Ngài Toàn quyền để đưa những kinh nghiệm này vào hiến pháp mới của Vương quốc Hanover.”

“Arthur, phải nói thật là trước đây tôi còn rất buồn khi Bộ Ngoại giao mất đi một nhân tài xuất sắc như bạn. Nhưng bây giờ thì có vẻ như cơ quan nội vụ mới là nơi phù hợp với bạn hơn. Nếu bạn được giao trách nhiệm quản lý Bộ Nội vụ, tôi không dám tưởng tượng bạn sẽ đạt được những thành tựu gì.”

“August, đừng khen ngợi tôi quá đâu. Tôi chỉ tình cờ nhận ra rằng Đại học Göttingen rất thích hợp cho việc thực hiện những kế hoạch này mà thôi. Thành thật mà nói, trong vài ngày gần đây tôi đã phát hiện ra một chàng trai rất tiềm năng – Otto von Bismarck. Nếu không có sự giúp đỡ của anh ta, có lẽ tôi sẽ không quyết định mở lại tổ chức sinh viên của Đại học Göttingen.”

“Arthur, bạn luôn biết cách làm mọi việc một cách hài hước như vậy. Miệng thì nói rằng muốn mang lại tự do cho họ, nhưng thực chất bạn lại định mở chi nhánh của Sở Cảnh sát Scotland Yard ở Göttingen… Bạn định đặt tên cho hội sinh viên ở đây là gì nhỉ? “New Scotland Yard” à?”

“Không, tôi định đặt tên cho nó là: Göttinger Enthusiasten für Soziales Tun und

“Tên này có hơi dài quá không nhỉ?”

“Tôi cũng nghĩ là dài rồi, vì vậy tôi định gọi nó bằng cái tên viết tắt thôi.”

“Cái tên viết tắt là gì vậy?”

“Gestapo (Đội Gestapo).”

“Đội Gestapo ư? Ồ, anh bạn, anh biết không, cái tên viết tắt này còn có thể ám chỉ một tổ chức khác nữa đấy… Nó cũng có thể là viết tắt của Geheime Staatspolizei (cảnh sát quốc gia bí mật) đấy.”

“Ồ, Auguste, anh thật sự khiến tôi nhớ ra điều đó. Xin lỗi nhé, tiếng Đức của tôi học không được tốt lắm…”

“Không đâu, ngược lại đấy. Arthur, tôi nghĩ trình độ tiếng Đức của anh hiện tại có lẽ đã quá giỏi rồi đấy. Hahaha!”

“Auguste, tôi không hề kiêu ngạo đâu; tôi thực sự cảm thấy trình độ tiếng Đức của mình vẫn cần phải cải thiện thêm. Chẳng hạn, tập hồ sơ sinh viên này trong tay tôi, tôi đọc không hiểu gì cả; tôi đang muốn hỏi anh một vài điều đây.”

“Hả? Đây là hồ sơ sinh viên của ai vậy? Trên đó bụi bặm dày đặc quá…”

“Bụi bặm thì cũng bình thường thôi; dù sao thì sinh viên này cũng đã tốt nghiệp từ Đại học Göttingen cách đây hàng chục năm rồi. Auguste, hãy mang theo nó đi; dù không chắc liệu nó có ích gì không, nhưng đối với một nhà ngoại giao sắp đi tham dự Hội nghị Munich, biết thêm thông tin càng tốt chứ.”

“Đây là… Clemens von Metternich! Đây là hồ sơ sinh viên của Metternich khi ông ấy học tại Đại học Göttingen à?! Arthur, anh thật sự luôn giúp tôi trong những lúc khó khăn. Với tập hồ sơ này, dù tôi không đạt được kết quả gì ở Munich, chỉ cần lấy vài thông tin không quan trọng trong đó để viết thành báo cáo và gửi về London, tôi cũng coi như hoàn thành nhiệm vụ rồi. Anh bạn thật tuyệt vời! Khi tôi trở về từ Munich, tôi sẽ mời anh đi tắm suối đấy.”

“Auguste.” Arthur thổi một hơi khói, sau đó vỗ nhẹ vào vai Thi Na Đức: “Chúng ta là bạn bè mà, phải không?”

1/1 0%