lore

Chương 535: Chiến thuật xúc xích

14,642 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Mặc dù đại học Göttingen nổi tiếng khắp châu Âu, nhưng thành phố Göttingen nơi nó tọa lạc lại không thể được coi là một thành phố lớn. Dù Göttingen thu hút rất nhiều học giả, sinh viên và trí thức vì bầu không khí học thuật xuất sắc cùng nhịp sống yên bình tương đối, nhưng quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở đây diễn ra khá chậm so với các khu vực khác.

Dân số của thành phố này chỉ khoảng từ 10.000 đến 12.000 người, và với quy mô dân số như vậy, tự nhiên là không thể có nhiều quán rượu lớn được mở cửa.

Quán rượu lâu đời nhất ở đây chính là Ratskeller – quán rượu nằm trong hầm tòa thị chính mà Heinrich đã từng đề cập với Arthur trước đó. Lịch sử của nó có thể truy ngược lại từ thế kỷ 13; nơi đây từng là nơi các quan chức thành phố và khách mời quý tộc dùng bữa và uống rượu, nhưng vào thế kỷ 17 và 18, nó dần mở cửa cho công chúng. Những kiến trúc vòm cổ điển và các món ăn truyền thống của Đức chính là niềm tự hào của Ratskeller.

Còn quán Zum Schwarzen Bren – nơi vừa xảy ra cuộc bạo loạn – không chỉ là địa điểm thường xuyên được sinh viên lui tới tụ họp mà cũng là nơi du khách thường ghé thăm.

Còn quán rượu mà Bismarck dẫn Arthur đến hôm nay nằm ở trung tâm thành phố Göttingen, đây là nơi mà người dân địa phương thường đến thưởng thức rượu – Paulinerkeller, quán rượu của Hội Paulin. Ngay từ tên gọi, đã có thể biết đây là một quán rượu do các tu sĩ hoặc người hâm mộ Hội Paulin thành lập.

Tên đầy đủ của Hội Paulin là “Hội Tu Kín Thánh Phaolô”, đây là một dòng tu Công giáo được thành lập vào thế kỷ 13, bắt nguồn từ Hungary và Ba Lan. Dòng tu này được đặt tên theo Thánh Phaolô – vị tu kín đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo.

Các tu sĩ của Hội Paulin nổi tiếng với lối sống tu kín nghiêm ngặt, chú trọng đến việc cầu nguyện, suy ngẫm và sống đơn độc. Mặc dù Hội Paulin không nổi tiếng bằng các dòng tu như Benedictine hay Franciscan, nhưng ảnh hưởng của nó ở Trung và Đông Âu vẫn không thể bỏ qua.

Các tu sĩ của Hội Paulin thường sống trong các tu viện ở những khu vực hẻo lánh, sống cuộc sống giản dị. Vì vậy, việc có một quán rượu thuộc Hội Paulin ở một thành phố nhỏ như Göttingen cũng không phải là điều lạ lùng gì.

Arthur theo Bismarck bước xuống cầu thang và vừa bước vào quán rượu hầm này, ngay lập tức họ nhìn thấy bức tượng “Đức Mẹ Đen” đặc trưng của Hội Paulin. Đức Mẹ Maria mặc chiếc áo choàng đỏ được trang trí bằng ren vàng, đeo tấm áo choàng màu xanh đậm, đội vương miện vàng, với khuôn mặt nghiêm nghị và đôi mắt nhắm lại, thể hiện vẻ đầy lòng từ bi và

Tuy nhiên, khác với những bức tượng Đức Mẹ mà Arthur đã thấy ở những nơi khác, bức tượng Đức Mẹ trong tầng hầm rượu của Paulin có làn da màu nâu đen gần giống màu đen, trông như thể đã bị khói nến hoặc mùi của gỗ sồi làm ảnh hưởng đến màu sắc của nó.

Dù vậy, mặc dù bức tượng Đức Mẹ được thờ cúng ở đây rất tinh xảo, nhưng phần còn lại của nội thất lại khá mộc mạc và thiếu đi sự tỉ mỉ.

Những chiếc bàn và ghế bằng gỗ chiếm phần lớn không gian; mặt bàn sau nhiều năm sử dụng đã trở nên đầy vết nhăn và toát ra mùi thơm của gỗ thông cổ xưa.

Nền nhà được lát bằng đá cuội, và sau hàng trăm bước chân đi lại, nó đã trở nên nhẵn bóng nhưng vẫn hơi gập ghềnh.

Trên tường treo vài bức bích họa, những bức tranh đó hoặc miêu tả cảnh lao động của người nông dân, hoặc là các chủ đề tôn giáo quen thuộc như “Đức Mẹ nhận lời kêu gọi”, “Chúa Giê-su rửa tội”, “Đức Mẹ lên trời”.

Ở góc tường, có vài thùng rượu; nút gỗ và dụng cụ dùng để uống rượu được xếp ngẫu nhiên bên cạnh.

Vì điều kiện ánh sáng trong tầng hầm không tốt, nên người ta đã mở vài ô cửa sổ nhỏ và hẹp để lấy ánh sáng vào trong. Nhìn kích thước của chúng, có lẽ chỉ vào ban ngày thì mới có thể cho vài tia nắng mặt trời chiếu xuống được.

Nhưng ngoại trừ những điểm không thoải mái đó, nơi này vẫn mang lại cho Arthur cảm giác khá tốt.

Bởi vì bầu không khí ở đây giống hệt với vùng nông thôn Yorkshire, hoàn toàn không giống với sự lạnh lùng của London hay sự hối hả của Paris.

Không khí nơi đây tràn ngập mùi của malt và hoa bia, kết hợp với mùi thuốc lá và thịt nướng, tạo nên một bầu không khí đặc biệt.

Vào buổi tối, quán rượu đầy rẫy tiếng động: tiếng cười rộng lớn của đàn ông, tiếng xúc xắc lăn trên mặt bàn, tiếng cốc bia va vào nhau, cùng với tiếng động bận rộn của chủ quán phía sau quầy bar. Dưới những ô cửa sổ hẹp, một chiếc đèn dầu lắc lư treo trên trần; ánh sáng mờ ảo khiến căn phòng trở nên ấm áp nhưng cũng hơi tối tăm.

Khách hàng ở đây chủ yếu là những người nông dân, thợ thủ công và người buôn bán từ các làng mạc. Họ mặc đồ giản dị; làn da của họ trở nên thô ráp do nhiều năm lao động, và khuôn mặt họ đỏ hồng vì ánh nắng mặt trời cùng với những dấu hiệu của thời gian.

Đàn ông thường mặc đồ làm việc bằng vải lanh hoặc vải thô, đội những chiếc mũ len rộng vành. Có lẽ vì buổi tối khá lạnh, nên vẫn có thể thấy một số người khoác áo choàng len để giữ ấm.

Họ ngồi bên

Nếu như hành động lau ly của anh ta dừng lại một chút, thì chắc chắn là có khách mới bước vào quán rượu.

Chủ quán nhìn hai vị khách ngồi xuống, đặt chiếc ly xuống và hỏi: “Các bạn muốn uống gì?”

Bismarck đặt hai tay lên quầy bar và đặt hàng một cách thành thạo: “Một chai rượu vang trắng từ thung lũng sông Rhine, kèm theo một phần đùi heo nướng và bánh gối khoai tây.”

Nói xong, anh ta quay đầu nói với Arthur: “Bia ở đây rất ngon, bạn có thể thử xem.”

Arthur hỏi: “Vậy tại sao anh không gọi bia?”

Bismarck khéo léo mở nút chai rượu vang và rót đầy cho mình một ly: “Mẹ tôi sợ tôi sẽ nghiện rượu khi học đại học, nên cấm tôi uống bia. Tôi là một đứa trẻ ngoan; nếu bà ấy không cho phép, tôi cũng không uống. Dù sao thì rượu vang cũng giống như rượu soju mà thôi.”

Arthur nhìn chàng trai nghịch ngợm này một cái, cười hai tiếng rồi chỉ vào thực đơn treo trên đầu chủ quán và nói: “Một ly bia đen, một đĩa xúc xích trắng nóng hổi kèm dưa chua.”

Nghe vậy, chủ quán liền quay người lấy xúc xích và dưa chua ra từ nồi lớn đang sôi trên bếp và đặt trước mặt Arthur.

Khi Arthur chuẩn bị bắt đầu ăn, bỗng nhiên, chủ quán lại đưa lên một đĩa nhỏ, trên đó có hai cây dưa chua màu xanh đen được xếp gọn gàng. Sau đó, ông ta còn tự ý rót cho Arthur một ly rượu táo màu vàng nhạt.

Trước khi Arthur kịp hỏi, chủ quán đã nói: “Tôi thấy ông là khách mới đến đây, có lẽ đây là lần đầu tiên ông đến Göttingen phải không? Những cây dưa chua này tôi tặng cho ông. Còn rượu táo thì đây là đặc sản của chúng tôi; nếu ông không thử, thì chuyến đi này sẽ trở nên vô ích đấy.”

Nghe vậy, Arthur nhận ra rằng cảm nhận ban đầu của mình quả thật không sai. Nơi này thực sự giống như các quán rượu ở vùng nông thôn Yorkshire – mặc dù có vẻ hơi mộc mạc, có vẻ lạc hậu, nhưng tình cảm con người ở đây thì rất ấm áp.

Ở những quán rượu như thế này, rượu không chỉ là thức uống; việc ăn uống cũng không chỉ đơn thuần là để no bụng. Nó giống như một công cụ giao tiếp giữa các hàng xóm. Mọi người dùng ly rượu để ăn mừng, thể hiện tình bạn, thậm chí giải quyết những tranh chấp.

Ở những nơi như thế này, tin tức trong làng luôn được lan truyền nhanh chóng nhất – dù là tin về đám cưới của hàng xóm hay những chính sách mới của thành phố, tất cả đều được bàn tán sôi nổi trong quán rượu.

Đức tin tôn giáo cũng là một phần không thể thiếu của những quán rượu này. Chiếc thánh giá và hình ảnh các vị thánh treo ở góc tường, mặc dù thông thường mọi người không mấy

Arthur cười ha hả, nâng ly rượu táo lên và hô với chủ quán: “Nào, thưa ngài, chúng ta cùng nâng cốc để tôn vinh Đức Mẹ Maria và thành phố Göttingen!”

Những khách uống rượu ngồi bên cạnh Arthur cũng cười ha hả và đồng ý nâng cốc: “Đúng vậy! Chúng ta cùng tôn vinh Đức Mẹ Maria và Göttingen, mong rằng mọi người trong năm nay sẽ có một mùa thu hoạch bội thu!”

Thấy vậy, chủ quán cũng mỉm cười e thẹn và gật đầu như là đang đáp lại lời chúc của khách hàng.

Bismarck nhìn thấy Arthur đã kết bạn dễ dàng với mọi người trong quán rượu và không khỏi ngưỡng mộ vị hiệp sĩ người Anh này.

Ông nói: “Tôi nghe nói anh đến từ London, không ngờ ở vùng quê này, anh cũng hòa nhập được như vậy.”

“Có gì lạ đâu?” Arthur uống một ngụm bia, thở dài mãn nguyện: “Tôi phải sửa lại cho anh một điều: Tôi không phải là người London đâu. Tôi chỉ là một người quê mùa bình thường mà thôi… Dĩ nhiên, tôi không có ý nói mình là người Mỹ đâu. Tôi là một quý ông thực thụ từ York, nước Anh, chứ không phải là một người dân quê mùa từ New York của nước Mỹ.”

“Tất nhiên tôi biết rồi.” Bismarck trả lời một cách châm biếm: “Nếu anh không phải là người Anh, làm sao anh có thể ở độ tuổi này đã trở thành giám thị của Đại học Göttingen? Những giáo sư nhỏ bé như Dalman, dù họ cố gắng suốt đời, cũng không bao giờ có thể trở thành hiệu trưởng của Đại học Göttingen đâu.”

“Hmm?”

Mặc dù Arthur và Bismarck đã trò chuyện sâu rộng với nhau trong vài ngày, nhưng đây mới là lần đầu tiên Arthur nghe thấy những lời nói thật lòng từ miệng người này.

Arthur hỏi: “Otto, tôi không đồng ý với quan điểm của anh đâu. Mặc dù tôi chưa công bố điều này với người ngoài, nhưng với tư cách là đại diện đặc biệt của quốc gia tại Đại học Göttingen, tôi đang xem xét việc đề cử Giáo sư Friedrich Dalman làm hiệu trưởng mới của Đại học Göttingen. Nếu ông ấy thể hiện xuất sắc trong vai trò này, ngay cả khi sau này ông ấy được bầu vào nội các của Vương quốc Hanover và trở thành một bộ trưởng, tôi cũng không thấy có gì lạ cả.”

Nghe vậy, Bismarck cảm thấy như có gì đó đang cào xát khắp người mình: “Vậy à? Thì Dalman cũng may mắn thật… Nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng ông ấy sẽ đạt được những thành tựu lớn lao trong tương lai. Những chuyện của Đức, chính trị ở đây, một người nước ngoài như anh thì chẳng thể hiểu được đâu.”

“Làm sao lại như vậy?”

Arthur nhìn người thanh niên mới mười tám tuổi trước mặt mình và thấy thật buồn cười khi anh ta lại có thể bàn luận về chính trị ở độ tuổi này.

Dù anh ta là Bismarck, nhưng thực ra anh ta vẫn chỉ là một B

Cho đến nay, có lẽ khủng hoảng lớn nhất mà anh ấy từng gặp phải chính là việc nợ nần và bị giam giữ trong phòng biệt giam.

Còn về chính trị, nếu không trải qua những sự kiện kỳ lạ đó bằng chính mình, bạn sẽ mãi không thể hiểu được mức độ tồi tệ của tình hình ở đây.

Tuy nhiên, Bismarck không quan tâm đến việc Arthur nghĩ gì về ông; người thanh niên 18 tuổi này cũng chẳng bao giờ cho rằng quan điểm chính trị của ông là tồi tệ.

Bismarck nói với giọng tức giận:

“Trên khắp Đức, dù là ở Phổ hay Hanover, người nước ngoài đều nhận được quá nhiều ưu đãi! Chính phủ chúng ta thực sự tin rằng tài năng của người nước ngoài cao hơn người Đức. Họ cho rằng chúng ta, những quý tộc nông thôn bản địa, không sở hữu những tài năng cần thiết để tham gia vào công việc chính trị, và cũng không có khả năng bù đắp cho các thiếu sót hiện có trong các cơ quan chính phủ.

Mẹ tôi đã gửi tôi đến Göttingen để học luật, nhưng cái bằng đại học đó có ích gì chứ? Ở Phổ, đối với một thành viên ban xét xử tại tòa án phúc thẩm hay một quan tòa chính phủ không có mối liên hệ gì với các bộ trưởng hay quan chức cấp cao, nếu anh ta không dành hàng chục năm để leo lên những bậc thang quan trường đầy nhàm chán, không thu hút sự chú ý của cấp trên và không được thăng chức, thì anh ta gần như không có cơ hội tham gia vào chính trị Phổ.

Nhưng trong lĩnh vực ngoại giao, một số ứng viên chỉ vì giàu có, có quyền lực, hoặc may mắn biết tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Pháp, đã có thể coi đó là lý do để nhận được những ưu đãi. Ngay cả khi trình độ tiếng nước ngoài của họ chỉ tương đương với người phục vụ trong nhà hàng hay người quản lý, thì ở đây họ vẫn có thể dễ dàng nhận được giấy phép để đảm nhận các chức vụ ngoại giao.

Tôi không đùa đâu; nhờ vào mối quan hệ của bác tôi, tôi đã quen biết khá nhiều sứ giả Phổ thế hệ cũ. Họ chẳng biết gì về chính trị cả; trong các báo cáo của họ, họ chỉ nói về những điều mà họ có thể nói trôi chảy bằng tiếng Pháp… Nhưng chỉ vì họ thông thạo tiếng Pháp, họ lại được bổ nhiệm vào các vị trí cao cấp… Thật là vô lý!

Những nguyên soái có công lao lớn của chúng ta, như Blücher, Gneisenau, Köpen, đều không phải là người gốc Phổ. Các quan chức dân sự như Stein, Hardenberg, Moltke và Großmann cũng vậy. Các chính trị gia của chúng ta, giống như những cây non trong vườn ươm, cần phải được trồng lại để rễ cây phát triển tốt hơn.”

Ngón tay của Arthur gõ nhẹ lên mặt bàn; anh suy nghĩ: “Vậy đây chính là lý do bạn gây rối ở trường sao? Bạn nghĩ việc học

Nơi đây tràn ngập những quan điểm hẹp hòi, keo kiệt và tiêu cực của tầng lớp trung lưu nhỏ nhen – những quan điểm giống hệt những gì mà mẹ tôi từng có. Ồ, đúng rồi, trong hầu hết các trường hợp, họ gọi chúng là chủ nghĩa tự do… Giống như anh hùng ở đây, Heinrich Heine chẳng hạn; ông ấy chính là một ví dụ điển hình cho loại người trung lưu tự do này!

Nghe xong, Arthur không khỏi cảm thấy rằng cậu bé này còn khó đối phó hơn cả bản thân mình khi còn trẻ.

Khi còn học tại Đại học London, mặc dù mối quan hệ giữa Arthur và giáo sư hướng dẫn của anh không mấy tốt đẹp, nhưng anh vẫn khá thân thiện với các bạn học, và cũng rất yêu thích ngôi trường lúc bấy giờ – nơi mà mọi thứ luôn như một công trường xây dựng.

Tuy nhiên, những người mà Bismarck ghét bỏ không chỉ bao gồm các giáo sư mà còn có cả bạn học và chính ngôi trường đó.

Đối với một chàng trai đã từng được giáo dục bắt buộc theo hệ thống của Prussia, ngay cả Đại học Göttingen – nơi mà Heine coi là một trường học bảo thủ và độc đoán – cũng vẫn còn quá “tự do” so với suy nghĩ của Bismarck.

Trong một môi trường nơi mọi người đều hô hào ủng hộ sinh viên Frankfurt, Bismarck thực sự là một kẻ lạc lõng.

Tuy nhiên, đối với Arthur mà nói, nếu mọi người đều suy nghĩ như Bismarck, thì công việc của một đại diện quốc gia sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Arthur lại lấy ra bức thư mà mẹ của Bismarck đã gửi đến trường, và giả vờ nghiêm túc nói với anh ta: “Otto, tôi nghĩ em thực sự nên đọc bức thư này một cách kỹ lưỡng. Tôi biết em không thích trường học, nhưng nếu em tiếp tục đối xử như vậy với việc học của mình, e rằng em sẽ phải đi nhập ngũ thôi.”

“Đi nhập ngũ?” Bismarck ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”

“Bởi vì mẹ em đã yêu cầu trường thông báo với em rằng hiện tại em chỉ có hai lựa chọn: hoặc là tốt nghiệp đại học, hoặc là đi nhập ngũ để tự kiếm tiền chi tiêu. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu được sự bi quan của em về tương lai; em nghĩ rằng bằng đại học không có ích gì. Ở một mức độ nào đó, tôi đồng ý với quan điểm của em… Một tấm bằng đại học quả thực không có giá trị lắm. Nhưng nếu em thành công trong việc tốt nghiệp chuyên ngành luật và làm tốt công việc của mình, tôi có thể viết một lá thư giới thiệu từ trường gửi đến bộ tư pháp của Prussia, để giới thiệu về ông Otto von Bismarck – một sinh viên xuất sắc của khoa luật tại Đại học Göttingen.”

Nói đến đây, Arthur dừng lại một chút, rồi bình tĩnh cắt nhỏ những miếng xúc xích trên

1/1 0%