lore

Chương 1135

16,925 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ngay lúc Chính phủ Anh đang phải đối mặt với nhiều áp lực liên quan đến chuyến thăm công du của Sa hoàng, phía Nga cũng gặp không ít khó khăn tương tự.

Mặc dù trong mắt các thế hệ sau này, việc nguyên thủ quốc gia thực hiện các hoạt động ngoại giao là điều hoàn toàn bình thường, nhưng vào thời kỳ giao thông còn thiếu thuận tiện, những chuyến công du ra nước ngoài của các nguyên thủ quốc gia lại không hề dễ dàng chút nào.

Xét ở một khía cạnh nào đó, chuyến thăm Anh của Sa hoàng Nikolai I có thể được coi là lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao giữa hai quốc gia.

Trước Nikolai I, chỉ có hai vị Sa hoàng Nga từng đặt chân đến đảo quốc Anh.

Vị đầu tiên là Peter Đại đế vào năm 1698. Lúc đó, ông đã dùng danh tính giả “Peter Mikhailovich” để cùng đoàn sứ thần Nga sang Tây Âu và ở lại Anh trong suốt bốn tháng.

Trong thời gian đó, Peter Đại đế không chỉ ghé thăm Đài thiên văn Hoàng gia, xưởng đúc tiền, Học viện Khoa học Hoàng gia, Đại học Oxford, xưởng sản xuất vũ khí Woolwich và xưởng đóng tàu Hoàng gia Dettford, mà còn tranh thủ học hỏi nhiều kiến thức tiên tiến. Thậm chí, ông còn có một mối quan hệ tình cảm với nữ ca sĩ giọng nam cao người Anh Letitia Ke Ro-sơ, qua đó khôi phục lại quan hệ chính trị và kinh tế giữa hai nước.

Vị Sa hoàng Nga thứ hai đến Anh là anh trai của Nikolai I – “Alexander Đại đế Thánh thiện”.

Tuy nhiên, Alexander Đại đế chỉ ở lại Anh trong thời gian ngắn. Vào tháng 6 năm 1814, ông đến London chủ yếu để kỷ niệm chiến thắng trong Liên minh Chống Pháp.

Chuyến thăm Anh của Nikolai I thì khác biệt so với hai lần trước, bởi vì ông là vị Sa hoàng Nga đầu tiên đến Anh với tư cách là khách mời chính thức.

Mặc dù Chính phủ Anh cũng đã sắp xếp cho ông một số chương trình tham quan, nhưng mục đích chính của chuyến đi này vẫn là tiến hành các cuộc gặp cấp cao với Nữ hoàng Victoria, Công tước Albert cùng Thủ tướng La-vơ-rít · Bì Nhĩ và các nhà lãnh đạo cấp cao khác của Chính phủ Anh.

Anh rất kỳ vọng vào chuyến thăm này của Sa hoàng, trong khi Nga cũng mong muốn tận dụng cơ hội này để chấm dứt cuộc đối đầu kéo dài mười năm với Anh.

Bởi vì trong bối cảnh khi nền kinh tế toàn cầu mới bắt đầu hình thành, tình trạng suy thoái kinh tế của Anh không phải là một sự kiện đơn lẻ. Thực tế, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu này thậm chí không bắt đầu từ Anh, mà là từ Mỹ vào năm 1837.

Năm 1837, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã khiến cho rất nhiều ngân hàng phá sản, giá đất tại các trung tâm kinh tế như New York, Boston… giảm mạnh, việc xây dựng đường sắt bị đình trệ, thậm chí quá trình phát triển vùng Tây cũng buộc phải chậm lại.

Vì mối quan hệ thương mại giữa Anh và Mỹ rất chặt chẽ, nên cuộc khủng hoảng này nhanh chóng lan sang Anh Quốc. Sự suy giảm nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Mỹ đã làm cho ngành công nghiệp dệt bông của Anh giảm sút xuất khẩu, điều này lại khiến cho tốc độ phát triển của ngành đóng tàu chậm lại, đồng thời làm giảm mạnh nhu cầu về thép và than đá.

Trong một thời gian ngắn, rất nhiều nhà máy ở Anh bắt đầu rút ngắn giờ làm việc, thậm chí phá sản; các thành phố công nghiệp lớn như Manchester, Lý Vật Phố, Glasgow… đều xuất hiện tình trạng thất nghiệp tràn lan.

Đây cũng chính là lý do tại sao phong trào Hiến chương – ban đầu chỉ mang tính chất biểu tình nhỏ – lại có thể phát triển mạnh mẽ sau năm 1838.

Còn tình hình ở Pháp thì sao?

Tình hình của người Pháp còn tồi tệ hơn cả Anh.

Khác với Anh, Pháp không sở hữu một thị trường thống nhất mà được tạo thành từ nhiều thị trường địa phương riêng lẻ; vì vậy, những biến động kinh tế ở các khu vực cụ thể có thể gây ra những tác động cực đoan hơn nhiều.

Hơn nữa, hệ thống công nghiệp của Pháp cũng chưa phát triển mạnh mẽ như Anh, và họ cũng không sở hữu thị trường nước ngoài rộng lớn như Anh; vì vậy, khả năng phục hồi kinh tế của họ cũng kém hơn nhiều.

Điều tồi tệ hơn nữa là người dân Pháp không có nhiều lựa chọn hay cách để giải tỏa căng thẳng như người Anh.

Ở Anh, nếu thực sự không còn lựa chọn nào khác, họ vẫn có thể quyết định “đi đến các thuộc địa” – như “xuất hiện ở Mỹ” hay “xuất hiện ở Úc” – cũng coi như là một lựa chọn khả thi.

Nếu không đủ tiền mua vé tàu, họ cũng có thể tìm đọc luật pháp của Anh để tìm ra các khoản phạt liên quan đến tội lưu đày. Mặc dù điều kiện sống trên những con tàu lưu đày không mấy tốt, nhưng so với việc chết đói vì không có việc làm, tỷ lệ tử vong chỉ khoảng 2% vẫn còn tốt hơn nhiều.

Hơn nữa, theo chính sách mới được ban hành sau khi Arthur lên nắm quyền, Bộ Hải quân sẽ tính toán chi phí dựa trên số lượng tù nhân thực sự đến nơi lưu đày. Nhờ vào điều này, những nhà thầu vận chuyển tù nhân trước đây – những người chỉ quan tâm đến việc vận chuyển mà không quan tâm đến sức khỏe của tù nhân – chắc chắn sẽ không còn cơ hội làm ăn như trước

Chẳng hạn như, một số đòi hỏi của phong trào Hiến chương đã được thông qua; việc bầu cử kín cũng đã được áp dụng, và các ràng buộc về tài sản liên quan đến việc bầu cử đã được bãi bỏ, vì vậy trong quốc hội có thể đầy đủ đại diện của người lao động.

Chính vì lý do này, mặc dù tình hình nội bộ của Anh rất tồi tệ, nhưng về căn bản vẫn còn khả năng được cải thiện.

Tuy nhiên, đáng tiếc là tất cả những điều kiện trên đây đều không tồn tại ở Pháp.

Dân số thất nghiệp ở Pháp không có nơi nào khác để đi, vì vậy họ chỉ có thể ở lại trong nước.

Anh có thể cải cách “Đạo luật Lương thực”, nhưng Pháp thì không có điểm đột phá tương tự, bởi vì hiện nay Pháp vẫn chủ yếu là một quốc gia nông nghiệp – 75% dân số sống ở vùng nông thôn. Nếu giảm giá lương thực, chỉ có 10% dân số làm công nhân sẽ hài lòng, nhưng điều đó sẽ khiến 70% dân số làm nông nghiệp bất mãn.

Một phép tính đơn giản như vậy, dù cho Lưu Ý ·Philip có đầu óc kém cỏi đến đâu, ông ấy cũng hiểu rõ điều đó.

Cuộc nổi dậy của công nhân dệt may ở Lyon có quy mô không nhỏ, nhưng hai cuộc nổi dậy này cũng chỉ có vài nghìn người tham gia. So với cuộc nổi dậy của nông dân ở Vende với quy mô gần 100.000 người, triều đại Tháng Bảy chính phủ thà chứng kiến 10 cuộc nổi dậy của công nhân dệt may còn hơn là một cuộc nổi dậy của nông dân ở Vende.

Tất nhiên, điều này không có nghĩa là cuộc sống của nông dân Pháp dễ dàng hơn là bao; chỉ là nhờ vào những mùa thu hoạch tạm ổn trong những năm gần đây, ít nông dân tham gia vào hoạt động trao đổi thị trường vẫn có thể sống qua ngày.

Nhưng nói cách khác, sự cân bằng trong cuộc sống như vậy cũng rất mong manh; chỉ cần Pháp gặp phải một mùa màng thất bát, thì câu chuyện của Lưu Ý ·Philip có thể sẽ lại xảy ra ở đây một lần nữa.

Và dưới áp lực như vậy, việc Chính phủ Pháp tăng cường đầu tư vào việc mở rộng quân sự ở Bắc Phi, Trung Đông và ven biển Địa Trung Hải cũng không khó hiểu.

Cuộc sống trong nước thực sự không thể tiếp tục được nữa; họ chỉ có thể cố gắng chiếm đoạt thêm một chút, tìm cách mở ra những cơ hội phát triển mới.

Tuy nhiên————

Có câu nói rằng, cái gì được coi là tốt hay xấu đều phải so sánh với nhau. Nếu cuộc sống của người Pháp khó khăn, thì cuộc sống của các bang ở Đức lại tốt đẹp hơn sao?

Mọi người đều vậy mà, cuộc sống của mọi người hàng năm cũng ngày càng tồi tệ hơn phải không?

Hơn nữa, so với Anh và Pháp, các bang ở Đức còn gặp phải một

Quá trình này, Anh đã vượt qua một cách an toàn cách đây hai mươi năm, còn người Pháp cũng đã vượt qua được những khó khăn cách đây mười năm.

Còn người Đức thì sao?

Họ phải vừa chống chịu cuộc suy thoái kinh tế, vừa hoàn thành quá trình chuyển đổi công nghiệp.

Tất nhiên, ở khu vực Đức cũng không thiếu tin tức tốt; lợi thế lớn nhất của họ là số lượng dân cư làm nông nghiệp cao hơn so với Anh và Pháp. Hầu hết các vùng ở đây vẫn nằm dưới sự kiểm soát của các chủ đất truyền thống, mức độ thị trường hóa còn hạn chế; vì vậy, miễn là các vùng nông thôn không gặp phải vấn đề lớn, họ vẫn có thể tiếp tục sống sót.

Nhưng nói cách khác, tình hình của Đức cũng giống như của Pháp: chỉ cần xảy ra mùa màng kém, hay những năm không thuận lợi, thì rất nhiều vị lãnh chúa nhỏ ở Đức có thể sẽ bị buộc phải hy sinh để cứu đất nước.

Vậy trong bối cảnh toàn châu Âu đang gặp khó khăn, ai mới là “học sinh xuất sắc” trong “lớp học” này?

Câu trả lời cho câu hỏi này chỉ có một, đó chính là Đế quốc Nga dưới sự trị vì của Nicholas I.

Trong khi hầu hết các khu vực ở châu Âu đều rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản, nền kinh tế Nga lại duy trì được sự ổn định đáng ngạc nhiên dưới sự quản lý của Hoàng đế Nicholas!

Do Nga thiếu hụt nền kinh tế tư bản trong thời gian dài và mức độ công nghiệp hóa còn thấp, nên họ tự nhiên không gặp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản.

Ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu bị Hoàng đế kiểm soát chặt chẽ trong một số thành phố như Saint Petersburg và Moscow; còn trên những vùng đất rộng lớn khác của đế quốc, người dân Nga sống trong sự bảo vệ của Hoàng đế, xa rời cuộc sống khắc nghiệt của nền kinh tế tư bản.

Tuy nhiên, mặc dù Nga không gặp phải khủng hoảng kinh tế, nhưng họ vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề khác.

Trong quá trình cải cách hành chính, Hoàng đế phải đối đầu với nhóm quan chức tham nhũng;

Trong vấn đề giải phóng nô lệ, Hoàng đế phải đấu tranh với nhóm chủ đất tham lam;

Trong việc hiện đại hóa đất nước, Hoàng đế vừa phải tìm cách sử dụng kiến thức khoa học kỹ thuật từ phương Tây để nâng cao năng suất sản xuất quốc gia, vừa phải sử dụng sức mạnh của phe Slav để ngăn chặn ảnh hưởng của tư tưởng tự do từ Tây Âu đối với Nga!

Nói chung, trên một số vấn đề, Nicholas I cảm thấy mình có thể là một vị vua tương đối tiến bộ; nhưng trên những vấn đề không thể nhượng bộ, ông lại cảm thấy mình phải áp dụng chính sách độc đoán mạnh mẽ.

Nếu loại bỏ những cá

Dù sao thì ngay từ đầu nhiệm kỳ của mình, Sa hoàng đã phải đối mặt với cuộc nổi dậy của nhóm Người tháng Mười Hai. Chính những bài học rút ra từ sự kiện này khiến cho, ngay cả khi Sa hoàng thực sự muốn thúc đẩy các cuộc cải cách, nhưng chỉ cần vấn đề ổn định trong nước Nga được đưa ra để thảo luận, ông ta lập tức sẽ suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi quyết định hành động.

Chỉ riêng trong khoảng thời gian Arthur sống tại Nga cùng Sa hoàng, ông ta ít nhất cũng nhận thấy rõ rằng Nicholas I ghét bỏ chế độ nô lệ; về vấn đề bãi bỏ chế độ nô lệ, chính Sa hoàng có lẽ là một người ủng hộ cải cách chân thành. Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là ông ta thực sự thiếu quyết tâm và can đảm để thực hiện những thay đổi lớn; chỉ sau khi thử nghiệm một cách nhẹ nhàng, ông ta đã nhanh chóng “quay đầu lại”. Bởi vì Nicholas I có lẽ nhận thức rõ rằng quyền lực độc đoán của mình chính là dựa trên sự ủng hộ của giới quý tộc Nga.

Tất nhiên, miễn là không xâm phạm vào nền tảng cai trị của mình, không công bố những quan điểm triết học có thể lật đổ chính quyền Nga, Nicholas I vẫn sẵn lòng hỗ trợ và tài trợ cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Sự đánh giá cao của Sa hoàng đối với Arthur Hastings và công ty điện báo điện từ Anh do ông ta sáng lập cũng xuất phát từ điều này; để có được sự giúp đỡ của nhà vật lý điện từ nổi tiếng khắp châu Âu này, ông ta thậm chí sẵn lòng hòa giải với Arthur và tha thứ cho những sai lầm chính trị mà ông ta đã mắc phải trong những năm trước đó.

Tất nhiên, điều này cũng có liên quan đến những cuộc thảo luận diễn ra trong nội bộ Nga trong những năm gần đây về công nghệ đường sắt và điện báo. Thực tế, như Arthur đã dự đoán trước đó, với sự phát triển công nghiệp của Nga, một số người có tư duy tiến bộ đã sớm đề xuất với chính phủ kế hoạch xây dựng đường sắt trên quy mô lớn tại Nga, nhưng phe bảo thủ trong nước đã kiên quyết phản đối việc áp dụng công nghệ đường sắt tại Nga. Vì vậy, hai bên đã có những cuộc tranh luận kéo dài hàng bảy, tám năm.

Giáo sư vật lý tại Đại học Petersburg, Shegrov – người từng gặp Arthur một lần – chính là một trong những nhà trí thức đầu tiên đề xuất việc xây dựng đường sắt tại Nga. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ đường sắt và điện báo, ông đã viết một bài báo có tựa đề “Về lợi thế vận tải của đường sắt và công nghệ điện báo đường sắt”, trong đó nhấn mạnh rằng việc xây dựng đường sắt có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Nga; tình trạng giao thông tồi tệ hiện nay đã gây ra nhiều khó

Trong một thời gian ngắn, hầu như mỗi số của tạp chí Giao thông Nga đều đăng các bài viết ca ngợi ưu điểm của giao thông đường sắt và tính hiệu quả của công nghệ điện báo.

Phía đối lập cũng không kém phần mạnh mẽ; những người cuồng nhiệt bảo vệ chế độ nô lệ như Công tước Belgorsky, Bá tước Tolb và Bá tước Michel cùng các quan lại khác hoàn toàn thờ ơ trước tình trạng giao thông yếu kém của Nga. Một mặt, họ chống đối việc áp dụng công nghệ đường sắt trong chính phủ; mặt khác, họ còn cử người phá hoại uy tín của những người ủng hộ đường sắt.

Ví dụ, Trung tá Jeström, cố vấn về vấn đề giao thông của Công tước Belgorsky, đã nhiều lần tổ chức các bài phát biểu với tiêu đề “Tại sao Nga không cần đường sắt”. Ông cho rằng các sản phẩm xuất khẩu chính của Nga là gỗ sồi, quặng sắt, da thú – những hàng hóa nguyên liệu có khối lượng lớn – nên việc vận chuyển bằng đường thủy còn kinh tế hơn nhiều so với đường sắt. Hơn nữa, điều kiện địa lý của Nga khiến họ không thể chi trả được chi phí bảo trì đường sắt đắt đỏ. Vì vậy, mặc dù các kênh đào ở Nga phải đóng cửa từ 6 đến 7 tháng mỗi năm, nhưng ưu thế của đường thủy vẫn là không thể thay thế được.

Thật ra, những luận điểm của Trung tá Jeström cũng không hoàn toàn sai; tuy nhiên, nếu đưa chúng ra trước mặt Ngài Arthur, thì chúng sẽ bị coi là hoàn toàn sai lầm, không tìm thấy chút đúng đắn nào cả.

Nhưng đáng tiếc thay, với tư cách là một quan chức chính phủ Anh, ý kiến của Ngài Arthur không hề ảnh hưởng đến Nga.

Có lẽ ngay cả bản thân Ngài Arthur cũng không ngờ rằng ảnh hưởng của mình lại được truyền đến Nga thông qua “Dự án Điện báo Xuyên Đại Tây Dương”.

Mặc dù dự án này ngay cả ở Anh cũng có vẻ phi thực tế, nhưng khi “Ý tưởng vĩ đại” của Ngài Arthur lan sang Nga, nó đã trở thành công cụ mà phe Tây phương và những người ủng hộ đường sắt sử dụng để áp đặt áp lực lên chính phủ và phe Slav.

Ở Nga, số người nghi ngờ về tính khả thi của dự án này thậm chí còn ít hơn so với ở Anh. Ngay cả khi có những người phản đối, họ cũng nhanh chóng bị những lập luận như “không thừa nhận Nga đang tụt hậu”, “là kẻ chủ mưu cản trở sự hiện đại hóa của Nga”, “Người Anh đang tạo ra những kỳ tích, trong khi người Nga vẫn còn nghi ngờ liệu có nên xây dựng đường sắt hay không” đè bẹp.

Gần như chỉ trong một đêm, giữa tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở Nga, đã xuất hiện rất nhiều người ủng hộ Arthur Hastings.

Và trong mắt người dân Nga, vai trò của Arthur Hastings đã nhanh chóng tăng lên từ một người theo học McFaraday trở thành

Và sau khi tiến hành những cuộc điều tra sâu rộng, phe Tây phương ở Nga đã phát hiện ra rằng vị đại anh hùng Arthur thực sự đã từng có mặt tại Nga, và còn bị mất chức vụ chỉ vì đã ủng hộ các hoạt động tự do liên quan đến Cáucaso. Điều quan trọng hơn nữa là ông ta còn là một học trò xuất sắc của Jeremy Bentham.

Ôi trời……

Có ai xứng đáng hơn ông ta để được coi là vị thánh của chủ nghĩa tự do không?

Những lời khen ngợi dành cho Arthur Hastings từ dư luận xã hội cũng không khỏi ảnh hưởng đến đánh giá của triều đình Nga về ông ta. Bởi mặc dù triều đình Sa hoàng nói chung cực kỳ bảo thủ, nhưng vẫn có không ít những người theo chủ nghĩa tiến bộ; trong số đó có chị dâu của Nicholas I là Elena Pavlovna và công nương Maria Pavlovna, em gái của Nicholas I.

Trong số họ, Elena thường xuyên tham gia vào các hoạt động của giới lãnh đạo Nga Phe Tự Do tại triều đình, còn Maria thì say mê âm nhạc và nghệ thuật của Tây Âu. Người nghệ sĩ mà bà yêu thích nhất chính là “Vua piano của Paris” – Franz Lý Tư; còn người thứ hai mà bà ưa chuộng thì…… không cần phải nói thêm nữa, mọi người đều hiểu.

Gió biển mang theo hơi lạnh của Biển Bắc, thổi liên tục từ hướng eo biển Spithead. Mũi tàu màu trắng xé toạc những con sóng màu xám chì; hai con đại bàng bạc được khắc trên thân tàu lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời tháng Năm trên bờ biển nam nước Anh. Du thuyền hoàng gia Nga “Parada” dưới sự hộ tống của hai tàu hộ tống của Hải quân Hoàng gia Anh, từ từ tiến vào vùng neo ngoài khơi cảng Portsmouth.

Nicholas I đứng trên boong mũi tàu, hai tay đặt lên lan can bằng gỗ xoan; chiếc áo quân phục của ông bay phập phồ trong gió. Dù vốn dĩ ông không hề thấp, nhưng tư thế đứng thẳng người đối mặt với gió biển khiến những quan lại mặc đồ vest dày cộm, đang run rẩy vì lạnh bên cạnh ông trông càng thêm tầm thường.

Vị Sa hoàng sắp bước sang tuổi 46 này, dù đi hay đứng, đều giữ thái độ thẳng tắp như những binh sĩ của đội vệ sĩ cá nhân; tuy nhiên, những nếp nhăn sâu hơn trên khóe mắt và vài sợi tóc bạc ở má vẫn không thể che giấu được những tác động tiêu cực của công việc Sa hoàng đối với sức khỏe tim mạch của ông.

“Thưa Ngài, cảng Portsmouth đã gửi thông báo rằng lễ chào đón đã được chuẩn bị sẵn sàng,” Đại tá Pavel Nashimov, chỉ huy tàu, bước đến phía trước và nói. Vị chỉ huy xuất sắc nhất của Hải quân Nga này cúi đầu và tiếp tục: “Đại diện của Nữ hoàng Victoria, Công tước Albert, đang chờ đợi tại bến cảng; Bộ trưởng Ngoại giao, Bá tước Aberdeen, và Thứ trưởng Hải quân Kiều Trị

1/1 0%