lore

Chương 882: Hastings, hãy đến Phố Paris, đừng để tôi nhìn thấy.

15,649 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Tạp chí Âm nhạc, số tháng 8 năm 1837

“Mùa âm nhạc Paris năm 1837”

Tác giả: Heinrich Heine

Tôi đã từng nói rằng, mùa hè năm nay ở Paris quá oi bức; tuy nhiên, nguồn gốc của cơn nắng này không hoàn toàn đến từ thời tiết, mà là từ một chàng trai tên Lý Tư.

Mỗi buổi hòa nhạc của anh ta giống như một vụ hỏa hoạn khủng khiếp: ầm ĩ, lửa cháy dữ dội, và khán giả thì nôn mửa, la hét.

Những quý bà ở Paris dường như bị điện giật khi nghe anh ta chơi đàn, rồi ngã xuống ghế, che mặt bằng khăn tay, như thể họ vừa trải qua một cuộc hy sinh lớn lao vậy.

À! Nếu Jeanne d’Arc có thể sống lại vào lúc này, có lẽ bà ấy sẽ xấu hổ trước những hành vi hysterical của phụ nữ Pháp.

Nhưng xin đừng hiểu lầm tôi. Tôi không hề phủ nhận tài năng của Lý Tư. Ngược lại, tôi sẵn lòng thừa nhận rằng đôi tay của anh ta thực sự có thể tạo ra những “phép màu”. Chỉ là những “phép màu” đó giống như những cơn co giật trong các buổi thuyết giáo hơn là những thông điệp nghệ thuật thực sự.

Sự tinh tế trong kỹ thuật, sự chính xác khi nhấn phím, và sự kết hợp hoàn hảo giữa các loại nhạc cụ dây… Những điều này hiện nay đều được ca ngợi là biểu hiện cao nhất của nghệ thuật. Các bậc thầy piano đổ xô về Paris hàng năm, không phải để kiếm tiền, mà là để tạo dựng danh tiếng tại đây, nhằm đạt được những lợi ích kinh tế lớn hơn ở những quốc gia khác.

Paris giống như những tấm biển quảng cáo cho họ; danh tiếng của họ được in ra với những chữ cái lớn ở đây. Tôi nói rằng danh tiếng của họ có thể được “đọc” được ở đây, bởi chính giới truyền thông Paris mới là những kẻ đã tuyên truyền điều này cho thế giới ngây thơ, và những bậc thầy nghệ thuật ấy thì chính là những kẻ lợi dụng báo chí và các nhà báo.

Họ biết cách thuyết phục ngay cả những người khó tin nhất, bởi con người luôn thích được ngợi khen, thậm chí sẵn lòng đóng vai trò người bảo vệ, dùng một tay để che đậy tay kia… Nhưng những bàn tay bẩn thỉu nhất thường không phải là tay của các nhà báo. Vì những lời ngợi khen giả tạo ấy, các nhà báo sẵn lòng trở thành những kẻ ngốc nghếch, chỉ để đổi lấy việc được kết bạn với các nghệ sĩ – một ảo tưởng hão huyền.

Ngày nay, mọi người thường nói về sự tham lam của giới truyền thông, nhưng họ hoàn toàn sai lầm. Thực tế, giới truyền thông thường bị lừa dối, đặc biệt là bởi những bậc thầy nghệ thuật nổi tiếng. Những người này có danh tiếng lớn; hay nói cách khác, chính họ hoặc người thân của họ đã chi rất nhiều tiền để quảng cáo cho họ nổi

Tôi đã không chỉ một lần chứng kiến những nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng ấy phải cúi đầu van xin trước mặt tổng biên tập của các tạp chí âm nhạc, vẫy tay liên hồi chỉ để mong nhận được vài lời khen ngợi trên tạp chí của ông ta. Nhưng ngay khi bước ra khỏi văn phòng biên tập, họ lại được đối xử như những vị hoàng tử chiến thắng, được mọi người kính trọng tại các thủ đô châu Âu… Thật là một sự trái ngược đáng buồn!

Tại văn phòng của tờ báo âm nhạc kia, tôi từng gặp một người già ăn mặc rách rưới; ông ta tự xưng là cha của một nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng và yêu cầu biên tập viên đăng quảng cáo, nhấn mạnh những điều cao quý trong sự nghiệp nghệ thuật của con trai mình.

Chẳng hạn, vị nghệ sĩ này đã tổ chức một buổi hòa nhạc tại miền nam nước Pháp và nhận được nhiều lời khen ngợi; số tiền thu được được ông dùng để hỗ trợ một nhà thờ Gothic cổ kính đang đứng trước nguy cơ đổ sập. Có lần khác, ông đã biểu diễn cho một góa phụ mất hết tài sản vì lũ lụt, và cũng biểu diễn cho một hiệu trưởng 70 tuổi đã mất con bò duy nhất của mình…

Trong cuộc trò chuyện dài với người cha này, ông ta thành thật thú nhận rằng con trai mình thực sự chưa bao giờ cố gắng giúp đỡ ông, thậm chí đôi khi còn khiến ông phải đói. Nhưng vì những quan niệm đạo đức giản dị, tôi muốn khuyên vị nghệ sĩ nổi tiếng này rằng, trước khi biểu diễn cho những người góa phụ hay hiệu trưởng già ấy, ông nên dành thời gian tổ chức một buổi hòa nhạc để giúp đỡ bộ quần rách rưới của cha mình.

Vậy thì, đỉnh cao của nghệ thuật là gì?

Đó là sự tự do trong ý thức tinh thần của con người.

Thực tế, bản chất của nghệ thuật tự do này chủ yếu được thể hiện qua cách thức xử lý nội dung và hình thức biểu diễn, chứ không phải thông qua chủ đề. Ngược lại, những nghệ sĩ chọn tự do và sự giải phóng làm chủ đề cho tác phẩm của mình thường có tâm hồn hẹp hòi, suy nghĩ bị ràng buộc và mang tính nô lệ sâu sắc.

Quan sát này cũng đúng trong thơ ca Đức ngày nay; chúng ta thật sự phải kinh ngạc khi nhận ra rằng những người hát ca về tự do một cách tràn trề nhất, bướng bỉnh nhất, dưới ánh nắng mặt trời, hầu hết chỉ là những kẻ hẹp hòi, những con ruồi nhỏ bé mà thôi.

Nếu Goethe còn sống, chắc chắn ông sẽ đánh giá họ như thế này:

Những con ruồi ngu ngốc! Chúng thật là tức giận!

Chúng vo ve, mặt dày mày dặn,

Rơi những giọt phân ruồi nhỏ bé

Lên mũi của kẻ bạo chúa!

Thưa độc giả thân mến, xin hãy tha thứ cho việc tôi sử dụng nhữ

Là một nhà báo luôn làm tròn bổn phận của mình, xin phép tôi được giới thiệu với các bạn một số điều tốt đẹp.

Tại Nhà hát Lịch sử trên đường Đền Thờ, gần đây đã diễn ra buổi ra mắt lần đầu tiên của vở “Turandot” bản tiếng Pháp, với lời nhạc do Alexander Trung Mã soạn và giai điệu do Sir Arthur Hastings sáng tác.

Tại đây, chúng ta cần lưu ý đến tinh thần đồng thuận giữa nhà thơ và nhà soạn nhạc này. Cả hai đều hiểu rõ cách nào để thông qua những nỗ lực nghiêm túc và cao quý để nâng cao tài năng của mình, và họ chủ yếu dựa vào việc rèn luyện bên ngoài chứ không chỉ dựa vào sự sáng tạo bẩm sinh để phát triển. Vì vậy, cả hai người đều không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước cái ác – điều mà đôi khi những tài năng sáng tạo lại hay làm. Họ luôn tạo ra những tác phẩm mới mẻ, du dương, đáng kính, có tính học thuật cao và trở thành những kiệt tác văn hóa. Cả hai đều là những con người cao quý và đáng được tôn trọng. Dù sự vắng mặt của Meyerbeer và Berlioz trong mùa âm nhạc năm nay khiến người ta cảm thấy tiếc nuối, nhưng trong một thời đại mà vàng bạc đang được keo kiệt che giấu, chúng ta không nên khinh thường những thứ “bạc” đang tồn tại.

Và vào lúc này, các nhà hát âm nhạc ở Paris dường như đang bị một loại “dịch bệnh vô hình” xâm nhập; mọi người đều hô vang tên Lý Tư, như thể đó là một lời cầu nguyện cứu rỗi. Điều đáng cười là những nhà báo âm nhạc tự cho mình là cao quý ấy, lại sẵn lòng trở thành những “nhà truyền giáo” của Lý Tư. Họ viết những bài báo dài dòng đầy dối trá trên các trang báo, gọi những tiếng la hét của anh ta là âm nhạc thiên đường, gọi những cơn choáng váng của anh ta là niềm say mê, và mô tả sự điên cuồng của anh ta là nguồn cảm hứng. Khi những tờ giấy này đến với các vùng nông thôn, những người dân ở đó liền nghĩ rằng Paris đã phát minh ra một tôn giáo mới, với những tín đồ là những người phụ nữ tuyệt vọng, và “phép màu” thì chính là những cơn ngất xỉu hàng loạt của khán giả.

Tuy nhiên, tôi muốn khẳng định một lần nữa rằng tôi không hề phủ nhận tài năng của Lý Tư. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng nếu tài năng ấy tiếp tục bị lãng phí theo cách này, thì sớm muộn nó cũng sẽ tắt ngúm như những ngọn pháo hoa rẻ tiền. Nó chỉ có thể chiếu sáng một đêm ở Paris, nhưng không thể làm ấm lên cả mùa đông của châu Âu.

So với đó, nghệ thuật của Talberg lại trở nên vững chắc và ổn định hơn nhiều. Anh ấy thể hiện sự thông minh bẩm sinh trong nghệ thuật của mình. Cách biểu diễn của anh ấy thật thanh lịch, giàu có, phù hợp, và không h

Anh ấy ngồi yên bình trước cây đàn piano, để mười ngón tay mình tạo nên những âm thanh mềm mại như tấm lụa, phủ lên đầu những người nghe những giai điệu dịu dàng ấy. Phong cách biểu diễn của anh ấy không hề có sự huy hoàng, nhưng lại chứa đựng sự ấm áp; không hề có những cơn co giật, nhưng lại rất có trật tự; không hề có tiếng hô vang, nhưng lại vang vọng những âm thanh đáp lại.

Nghệ thuật của anh ấy thực sự là một tài sản quý giá, chứ không phải là những tờ tiền có thể tiêu xài một cách tùy tiện.

Những quý bà khỏe mạnh yêu mến anh ấy, và những quý bà yếu đuối cũng không hề ghét bỏ anh ấy – điều này đã là một phép màu rồi.

Tôi chỉ có một người mà tôi yêu thích hơn anh ấy, đó là Chopin… Nhưng Chopin lại giống một nhà soạn nhạc hơn là một nghệ sĩ biểu diễn. Khi nghe Chopin, tôi hoàn toàn quên mất những kỹ năng piano tuyệt vời của anh ấy, và đắm chìm trong những giai điệu ngọt ngào ấy. Âm nhạc của Chopin, trong sự ngọt ngào đầy đau đớn, vừa sâu sắc vừa dịu dàng. Chopin là một thiên tài vĩ đại trong lĩnh vực soạn nhạc; ông xứng đáng được đặt ngang hàng với Mozart, Beethoven hay Rossini.

Tuy nhiên, tôi cần nhắc nhở các độc giả một sự thật dễ bị lãng quên: Ngày nay, Talberg – người đã nhận được nhiều lời khen ngợi tại Paris – vào thời điểm đó, tại Hội Âm nhạc London, chỉ là người chơi đàn piano dự bị cho Sir Arthur Hastings mà thôi.

Đúng vậy, chỉ khi Hastings vắng mặt, Talberg mới có cơ hội xuất hiện trên sân khấu.

Người Paris có thể cho rằng đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng đối với người London, đó chính là sự phản ánh trực tiếp về thực lực của mỗi người.

Ai có thể ngờ rằng, sự cẩn thận mà Talberg đã thể hiện khi còn là người chơi đàn piano dự bị, lại trở thành điểm mạnh của anh ấy ngày nay?

Còn người chính thực sự chiếm trọn sân khấu – Sir Arthur Hastings – thì đã từ lâu tuyên bố không còn biểu diễn công khai nữa, và đã hào phóng nhường sân khấu cho người khác.

Và người mà đã khiến Hastings phải nhường chỗ đó, chính là Frederic Chopin.

Dù vậy, tên tuổi của ông ấy vẫn không hề biến mất.

Bản “Chiếc Chuông” của ông vẫn tiếp tục bán chạy tại các cửa hàng nhạc cụ, và những giai điệu của ông vẫn luôn rung động trên đầu những đứa trẻ đang học chơi đàn piano.

Khi “Chiếc Chuông” vang lên trong các salons, cả căn phòng đều trở nên yên tĩnh bất ngờ.

Tiếng đàn của Lý Tư có thể khiến người ta hét lên, tiếng biểu diễn của Talberg có thể khiến người ta mỉm cười, nhưng những bản nhạc của Hastings lại khiến tất cả mọi người đứng dậy, như thể đang chứng kiến một số phận không thể cưỡng lại được

So với vị thần sấm này, Franz Lý Tư chỉ là một thần tượng của gió mà thôi.

Hastings có thể kiểm soát những cơn bão như cách anh ta buộc chặt các cành bạch dương để thu phục đại dương; nhưng Lý Tư thì không làm được điều đó.

Sự vĩ đại của một nghệ sĩ piano không nằm ở việc họ có thể tạo ra bao nhiêu nốt nhạc, hay liệu họ có thể làm cho chiếc đàn yếu đuối kia trở nên “đau khổ” như một con chó bị xe ngựa cán qua… Sự vĩ đại thực sự nằm ở sự tu dưỡng tâm hồn của họ.

Hastings chưa bao giờ tỏ ra điên rồ ngay trước cửa các phòng trà âm nhạc, cũng không bao giờ cúi đầu vì những lời khen ngợi rẻ tiền trên báo chí. Sự khiêm tốn của ông không phải là một bức mặt giả tạo, mà là sự bình tĩnh xuất phát từ trái tim.

Ông không muốn mình trở thành một “vật trang trí” trên sân khấu; thay vào đó, ông coi nghệ thuật như một món quà và trân trọng gửi đến thế giới này.

Ở Paris, biết bao nghệ sĩ sẵn lòng “khoe khoang” bản thân chỉ vì vài lời khen ngợi, giống như những đấu sĩ La Mã xưa; biết bao người sẵn lòng xúc phạm bạn bè chỉ để có cơ hội đứng trên sân khấu…

Còn Hastings thì sao?

Vào thời điểm sự nghiệp đỉnh cao nhất, ông đã tuyên bố không biểu diễn công khai nữa. Việc ông rút lui không phải do sự nhút nhát, mà là do sự kiềm chế. Ông muốn để lại những tiếng vỗ tay cho người khác, và giữ sự im lặng cho chính mình.

Ông Talberg đã từng nói trong một cuộc trò chuyện riêng tư: “Nếu không phải vì tôi đã từng thay thế Sir Arthur Hastings tại Hội Âm nhạc London, nếu không phải tôi đã chứng kiến bằng chính mắt mình cảnh ông ấy nhường chỗ cho người khác, thì tôi mãi mãi cũng không bao giờ hiểu được thế nào là sự đức độ thực sự.”

Câu nói đó có thể nghe có vẻ quá mức khen ngợi, nhưng tôi tin vào sự chân thành của Talberg. Bởi vì Hastings không chỉ là người thầy trong lĩnh vực âm nhạc, mà còn là tấm gương về đạo đức nữa.

Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng một câu chuyện thú vị. Tôi được nghe nói rằng, ông Schindler – người đang giữ chức giám đốc âm nhạc tại Cologne – đã rất tức giận, bởi vì tôi đã chỉ trích gay gắt chiếc cà vạt của ông ấy trong một báo cáo hàng quý, và còn cáo buộc rằng trên danh thiếp của ông ấy có in dòng chữ “Người bạn của Beethoven”.

Ông ấy phủ nhận điều đó; nhưng về chiếc cà vạt thì quả thực đúng như vậy – tôi chưa bao giờ thấy một chiếc cà vạt đáng sợ đến thế. Còn về danh thiếp… thì, theo bản chất con người, tôi cũng phải thừa nhận rằng mình cũng nghi ngờ liệu những dòng chữ đó

Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy tấm danh thiếp được đề cập trong bài viết đó bằng mắt chính mình.

  Tuy nhiên, vài ngày trước, tôi đã chứng kiến chính mắt mình rằng Chopin đã nhớ lại những khó khăn trong thời gian lưu vong tại London trong một bức thư: “Nếu không phải Arthur đã sẵn lòng nhường sân khấu cho tôi vào thời điểm đó, có lẽ buổi hòa nhạc đầu tiên của tôi tại London sẽ mãi mãi không bao giờ được thế giới biết đến.”

  ……

  Trong căn hộ của Heine, rèm cửa được kéo mở một nửa; gió đêm làm cho tờ báo trên bàn bay lượn, mùi mực vẫn còn ngửi thấy rõ.

  Heine tựa vào ghế sofa, hai chân để lung tung, khuôn mặt đầy tự hào; anh ta chỉ vào tờ “Báo Âm nhạc” và nói: “Thế nào? Cú đánh này có đủ sắc bén không?”

  Arthur đang cầm tờ báo đó trên tay; mí mắt anh ta rung động dữ dội khi đọc đến thông tin rằng mình đã được bầu làm “Thần Sét”. Anh suýt nữa là vò nát tờ báo đó trong tay.

  Anh luôn giỏi đối phó với những lời chế giễu lạnh lùng của các quan chức ở Whitehall, nhưng lúc này, anh trông giống như một học sinh bị giáo viên gọi tên trên lớp, khuôn mặt thay đổi liên tục.

  Trung Mã ngồi bên cạnh, vai anh rung lên; mặc dù người đàn ông mập mạp này đang cố gắng kìm nén cơn cười, cuối cùng anh vẫn không nhịn được và cười thành tiếng: “Hahaha! Arthur, lần này em thật là rắc rối rồi. Tôi nghe nói sau khi đọc bài viết đó, Lý Tư tức giận đến nỗi suýt nữa là đập vỡ cây đàn piano của mình, và anh ta còn sai người đi tìm hiểu xem liệu em có thực sự đến Paris hay không… Nhìn thái độ của anh ta, hoặc là muốn đấu kiếm danh dự với em, hoặc là muốn đấu đàn công khai với em.”

  Arthur đóng tờ báo lại, cố gắng giữ giọng nói bình tĩnh, nhưng ngón tay cái của anh vẫn không ngừng run rẩy, bộc lộ tâm trạng thực sự của anh: “Frederick chẳng lẽ không thể ngăn cản Lý Tư sao? Anh ấy hẳn biết rằng nếu đấu kiếm với tôi, Lý Tư sẽ không có cơ hội nào cả.”

  “Ngăn cản?” Trung Mã cười đến nỗi nước mắt tuôn ra; người đàn ông mập mạp này phải dùng khăn lau mắt một hồi mới có thể nói được: “Ngăn cản có ích gì chứ? Lý Tư đã tuyên bố rằng anh ta sẽ nghiền nát em trên sân khấu… Arthur, Frederick đã cố gắng hết sức rồi, nhưng bài viết của Heinrich lần này thực sự quá gay gắt.”

  Nhìn thấy vẻ e ngại của Arthur, Heine không khỏi nói với giọng khinh thường: “Arthur, em sợ gì chứ? Nếu là đấu kiếm, dù có mười Lý Tư đi nữa cũng không đủ sức đánh bại em đâu. Còn nếu là đấu đàn… Tôi phải th

Tôi đã bao giờ nói với anh rằng tôi đến Paris là để thi đấu piano với Lý Tư chứ? Tôi đến đây có việc quan trọng cần giải quyết mà!”

“À?” Haine nghe xong, có vẻ nghi ngờ: “Nhưng vài ngày trước, ông Carter đã nói với tôi rằng lần này bạn đến Paris là để kiểm tra trình độ của giới nhạc sĩ piano ở đây.”

“Ông Carter ư? Ý anh là Elder phải không?” Arthur suýt nữa nhảy dựng lên khỏi ghế: “Một nhân viên cấp hai của Bộ Hải quân như ông ta, làm sao lại trở thành phát ngôn viên của Ủy ban Cảnh sát được? Khi tôi vừa đến Paris, chưa kịp chuẩn bị hành lý gì, ông ta đã đăng ký cho tôi tham gia cuộc thi rồi?”

Nghe vậy, Haine cũng cảm thấy khó xử: “Vậy… bây giờ phải làm thế nào đây? Paris không giống London đâu; bạn đâu thể để cảnh sát Scotland Yard bắt Lý Tư được chứ!”

Nghe xong, Arthur tức giận đến mức quay sang Trung Mã: “Alexander, Elder đâu rồi? Tôi đã hai ngày không gặp ông ấy rồi.”

Trung Mã từ từ nhấp một ngụm rượu Bordeaux, rồi vung tay nói: “Tôi đâu biết tối nay ông ấy ngủ ở đâu… Nhưng tối qua, có lẽ ông ấy đã ở lại căn hộ của Polina.”

1/1 0%