lore

Chương 11: Bê bối về hành vi mua chuộc phiếu bầu

6,951 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Trong tiếng vỗ tay không ngừng nghỉ, tiếng mõ gõ xuống bàn lại vang lên một lần nữa.

Thẩm phán an ninh cười rạng rỡ và tuyên bố: “Sau khi lắng nghe bài phát biểu đầy hứng khởi của sĩ quan Arthur, tôi tin rằng mọi người đều đã hiểu rõ hơn về vụ án này và càng thêm tin tưởng vào phán đoán của chính mình. Bây giờ, tôi thông báo rằng thời gian nghỉ giải lao đã kết thúc. Xin mọi người quay trở về vị trí của mình, chúng ta sẽ tiếp tục xét xử vụ án.”

Phiên tòa ồn ào lại trở nên yên tĩnh trở lại. Thẩm phán an ninh nhìn về phía Arthur và hỏi với nụ cười: “Ông còn điều gì muốn bổ sung nữa không?”

Arthur lại lấy lại vẻ mặt nghiêm túc của mình và trả lời: “Yêu cầu của Sở Cảnh sát Đại London đã được ghi rõ trong bản cáo trạng, và chúng tôi cũng đã nộp đủ các bằng chứng liên quan. Tôi không còn điều gì cần nói thêm nữa.”

Thẩm phán gật đầu và nói với bồi thẩm đoàn: “Quá trình xét xử gần như đã hoàn tất. Vậy thì xin mời các thành viên bồi thẩm đoàn ra ngoài để thảo luận. Sau khi thảo luận xong, các bạn phải đưa ra phán quyết có tội hay vô tội cho bị cáo.”

Nếu các bạn kết luận rằng bị cáo có tội, tôi sẽ xem xét đến hành vi của bị cáo tại tòa án và dựa trên các nguyên tắc đạo đức xã hội và công lý để đưa ra mức án phù hợp và đưa ra phán quyết cuối cùng.”

Nói xong, thẩm phán dừng lại một chút.

Anh ta lấy cuốn Kinh Thánh đặt trước mặt mình và đặt nó lên trái tim mình.

Với vẻ nghiêm túc, thẩm phán tuyên bố với các thành viên bồi thẩm đoàn: “Các ông, các bà, tôi thề trước Chúa với danh dự và niềm tin của mình rằng tôi sẽ đưa ra một phán quyết công bằng, không đi ngược lại với lương tâm. Xin hãy tin vào lời hứa của tôi.”

Các thành viên bồi thẩm đoàn đều hiểu ý của thẩm phán.

Mặc dù bài phát biểu của Arthur đã làm lay động họ, nhưng hành vi phạm tội của cậu bé Adam là có thật. Vì vậy, họ hy vọng rằng các thành viên bồi thẩm đoàn sẽ không vì cảm xúc cá nhân mà đưa ra quyết định tha bổng cho bị cáo.

Tuy nhiên, thẩm phán cũng cam kết rằng ngay cả khi Adam bị kết tội, tòa án sẽ xem xét việc giảm nhẹ hình phạt cho cậu bé. Đứa trẻ chín tuổi này chắc chắn sẽ không bị treo cổ trên giàn giết người.

Nghe vậy, các thành viên bồi thẩm đoàn vẫn còn do dự. Mặc dù họ đã đứng dậy, nhưng họ vẫn chưa đi ra ngoài.

Họ biết rằng Adam sẽ được giảm nhẹ hình phạt, nhưng họ không biết tiêu chuẩn để đánh giá mức độ giảm nhẹ đó là gì.

Trong thời đại này, pháp luật là một kiến thức đặc biệt quan trọ

Bà Bì Nhĩ thấy rằng tình hình cứ tiếp diễn như vậy không phải là giải pháp nên bà đã mềm mỏi đặt ra câu hỏi.

“Thẩm phán ơi, xin phép tôi được hỏi ông một vấn đề liên quan đến pháp luật được không?”

Thẩm phán cảm thông gật đầu: “Tất nhiên, việc giải đáp những thắc mắc của các thành viên bồi thẩm đoàn chính là trách nhiệm của tôi.”

Bà Bì Nhĩ suy nghĩ một lúc lâu mới nghĩ ra cách hỏi sao cho không làm khó thẩm phán.

“Vậy thì, xin hỏi thẩm phán, nếu một kẻ phạm tội trộm cắp với số tiền trên năm xuân tệ, trong quá trình xét xử thể hiện sự hối lỗi sâu sắc, có lòng áy náy lớn, và lại còn là người vị thành niên, thì tòa án sẽ đưa ra phán quyết như thế nào?”

“Ô! Đây là một câu hỏi rất hay!”

Thẩm phán trả lời một cách nghiêm túc:

“Tôi tin rằng khi các vị nghe bài phát biểu của cảnh sát Arthur lúc nãy, chắc hẳn các vị đã để ý đến một nhân vật quan trọng – Lãnh chúa Samuel Romilly. Mặc dù có thể các vị còn chưa quen thuộc với cái tên này, nhưng ông ấy là một nhân vật lớn trong giới pháp luật, và cũng là một học giả uyên bác mà tôi rất ngưỡng mộ.

Mặc dù đề xuất cải cách luật hình do ông ấy đưa ra vào năm 1808 không nhận được sự ủng hộ đầy đủ từ quốc hội, nhưng vẫn có một số điều khoản được thông qua và thực thi. Trong đó có một quy định đặc biệt dành cho người vị thành niên phạm tội. Tôi có thể giải thích chi tiết cho mọi người nghe.

Vì người vị thành niên chưa đủ khả năng nhận thức đầy đủ, nên đối với những trẻ em phạm tội nhẹ, có thể áp dụng các biện pháp như yêu cầu người Gypsy đồng hành cùng chúng trong một tháng, hoặc áp dụng hình phạt roi, xiềng xích thay vì giam giữ. Còn đối với những trẻ em từ 7 đến 14 tuổi phạm tội nặng nhưng có lòng hối lỗi sâu sắc, có thể xem xét không áp dụng án tử hình mà thay vào đó là án lưu đày hoặc các hình phạt nhẹ hơn.

Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của tôi, nếu tình trạng sức khỏe của kẻ phạm tội không tốt, hoặc khi phạm tội chúng còn quá nhỏ tuổi đến mức không thể chịu đựng được án lưu đày, tôi cũng sẽ không áp dụng biện pháp này. Vì vậy, nếu tôi gặp phải trường hợp như vậy, ví dụ như một đứa trẻ phạm tội trộm cắp… Nếu số tiền trộm cắp từ mười xuân tệ trở lên, sẽ bị kết án tám năm tù; nếu từ năm đến mười xuân tệ, sẽ bị kết án năm năm tù.”

Một bà lớn tuổi trong bồi thẩm đoàn, tự xưng là mẹ của ba đứa con, hỏi: “Vậy nếu trộm cắp số tiền

“Thưa bà, điều này thực sự khiến tôi rất khó xử.”

Nghe vậy, thẩm phán an ninh do dự một hồi lâu, cuối cùng vẫn đưa ra quyết định: “Bảy shilling sáu pence, án tù bốn năm nhé.”

“Bốn năm tù?”

Các thành viên bồi thẩm đoàn nghe vậy lại bắt đầu do dự. Họ vẫn cho rằng mức án này quá nặng.

Đúng lúc đó, bà Bì Nhĩ bỗng nói lên. Bà lấy ra một chiếc ô voan trắng tinh khỏi bên mình và đặt nó lên bàn.

“Thưa thẩm phán, xin hãy so sánh chiếc ô này với vật chứng mà ông đang giữ. Tôi nghi ngờ chúng có thể đến từ cùng một nơi.”

“Ồ?” Thẩm phán an ninh vội vàng đeo kính lên và nói: “Xin bà đưa chiếc ô đó đến đây.”

Viên cảnh sát pháp y nhanh chóng đặt chiếc ô được coi là vật chứng cùng chiếc ô của bà Bì Nhĩ trước mặt thẩm phán.

Sau khi so sánh kỹ lưỡng, thẩm phán an ninh reo lên: “Trời ạ! Hai chiếc ô này giống hệt nhau. Đại úy Arthur, trong bản cáo trạng không ghi rằng chỉ sản xuất duy nhất một lô chiếc ô này sao? Chẳng lẽ bà Nancy đã nói dối các ông?”

Arthur cũng không hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra. Anh cau mày suy nghĩ, nhưng chưa kịp tìm ra câu trả lời, bà Bì Nhĩ lại tiếp tục nói:

“Thưa thẩm phán, bà Nancy chắc chắn không nói dối. Chiếc ô này thực sự chỉ được sản xuất một lô duy nhất. Bởi vì chiếc ô này là do ông Kiều Trị – vị nghị sĩ mới được bầu vào Hạ viện – đặc biệt đặt hàng tại nhà máy để tặng những người ủng hộ mình.”

“Lúc tôi nhìn thấy vật chứng, tôi đã cảm thấy nó quen thuộc. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi nhớ ra rằng vào ngày 25 tháng 3, khi vụ án xảy ra, tôi và bà Nancy đã cùng tham dự một buổi vận động tranh cử. Người tổ chức buổi họp đó chính là ông Kiều Trị; ông ấy đã phát tặng tổng cộng một trăm chiếc ô kiểu này cho các phụ nữ có mặt tại đó. Ông ấy cũng nhiều lần khẳng định rằng đây chỉ là một món quà nhỏ, không có giá trị gì đặc biệt, và không hề có ý định dùng nó để hối lộ mọi người.”

“Chính vì ông Kiều Trị đã cam đoan như vậy, tôi mới nhận chiếc ô này. Nếu ông ấy nói rằng chiếc ô này có giá trị bảy shilling sáu pence, tôi sẽ không bao giờ nhận nó đâu… Bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc làm ô uế danh tiếng trong sáng của ông ấy.”

“Nếu ông không tin, tôi có thể ngay lập tức viết thư cho ông Kiều Trị; tôi tin chắc ông ấy sẽ rất sẵn lòng đến tòa án để giải thích rõ ràng mọi chuyện.”

1/1 0%