lore

Chương 75: Đại nghiệp đóng tàu

7,457 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Cái gì, không đủ tiền mua à?” Rolan ngồi trong văn phòng, tờ giấy yêu cầu tuyển thêm nhân viên hành chính và mua thuyền buồm vẫn nằm trên bàn làm việc của anh. Ba Luó Phủ ho khan một tiếng rồi nói: “Thưa Hoàng tử, quả thực là vậy. Giá của một con thuyền hai cánh buồm dao động từ tám mươi đến một trăm hai mươi kim long, nhưng đó chỉ là chi phí chế tạo thuyền thôi. Nếu tính cả những người đi trên thuyền, tổng giá sẽ lên tới hơn hai trăm kim long.”

“Tôi đã nói rồi, tôi không cần các thủy thủ hay người lái rudder đâu. Chỉ cần con thuyền thôi.” Rolan vỗ vào mặt bàn và hỏi. Có Vân Đình ở đây, anh hoàn toàn không cần nhiều người để vận hành con thuyền buồm đó. Hầu hết các con thuyền trên sông đều có cánh buồm thẳng, việc vận hành chúng cũng giống như việc kéo lá cờ vậy; người chèo mái chèo và thủy thủ đều là những người không cần thiết. Người lái rudder thì cứ tìm một người bất kỳ nào lên thử là được. Dù sao với sức mạnh của gió vector này, làm sao con thuyền lại không tiến về phía trước được chứ?

“Thưa Hoàng tử, không có loại giao dịch như vậy đâu, ít nhất là không có ở Thị trấn Liễu Diệp,” Ba Luó Phủ giải thích cẩn thận. “Có lẽ Ngài chưa hiểu rõ về ngành này lắm. Thông thường, chủ sở hữu con thuyền cũng chính là người lái thuyền. Có thể là thương nhân hoặc quý tộc; những người thuộc nhóm thứ nhất sẽ tự tuyển mộ nhân viên và đi lại giữa các bến cảng khác nhau để buôn bán hoặc vận chuyển hàng hóa. Còn những người thuộc nhóm thứ hai thì thường sẽ tuyển một người lái thuyền thay mặt mình. Lương của nhân viên không được trả hàng tháng, mà được thanh toán một lần sau một đến ba năm.”

“Hầu hết các trường hợp, con thuyền và nhân viên đều gắn liền với nhau. Nếu Ngài muốn mua con thuyền mà không cần nhân viên do người lái thuyền tuyển mộ, thì ông ta sẽ phải chịu thiệt thòi về khoản lương đó. Số tiền tám mươi kim long, ngay cả đối với một Đại Quý Tộc, cũng không phải là số tiền có thể dễ dàng bỏ ra được. Đầu tháng này, sau khi giao dịch với Thị trấn Liễu Diệp về nguyên liệu đá quý, tòa thị chính hiện còn dư ba trăm mười lăm kim long. Nếu chi một nửa số tiền đó để mua thuyền, thì tháng sau đội dân quân của Ngài sẽ không có tiền lương để trả đâu.” Trợ lý của đại thần nói xong, rồi cầm ly uống một ngụm bia lúa mạch.

“Ông nói ‘hầu hết các trường hợp’…”

“Đúng vậy,” anh ta gật đầu, “Chỉ có hai trường hợp mà con thuyền có thể được bán ra: Một là thương nhân cần tiền mặt gấp và phải bán tài sản của mình; lúc đó họ sẽ sa thải tất cả nhân viên trên thuyền và cố gắng bán thuyền càng nhanh càng tốt. Hai là họ

“Nếu vậy thì tôi sẽ suy nghĩ kỹ hơn một chút.”

Sau khi trợ lý của đại thần rời đi, Vương tử bắt đầu suy tư sâu sắc.

Trong kế hoạch chiến lược mà ông đang xây dựng, việc vận chuyển bằng đường thủy là yếu tố không thể thiếu. Nếu không có phương tiện vận chuyển nhanh chóng và thuận tiện, ông sẽ không thể đưa các khẩu pháo đi thực hiện chiến dịch bao vây. Quân đội của Công tước Pháo đài thường được tuyển mộ từ những người nông dân, hiệp sĩ và lính đánh thuê, vì vậy tốc độ di chuyển của họ chắc chắn sẽ không nhanh lắm – chỉ chậm hơn so với quân đội của ông mà thôi. Như Carter đã nói, nếu chỉ dựa vào đường bộ, chỉ cần một cái bùn lầy cũng đủ để khiến các khẩu pháo không thể di chuyển được; giao thông đường bộ thời đó chẳng hề giống những con đường bê tông hay đá cuội ngày nay, mà chỉ là những con đường được hình thành do nhiều người đi lại mà thôi. Trong thời tiết nắng đẹp thì còn ok, nhưng mỗi khi trời mưa, mặt đất lại trở nên lầy lội không thể đi được.

Rốt cuộc, liệu có nên tự mình chế tạo những con tàu này không?

Rolan mở ra một tờ giấy và ghi chép từng yêu cầu cụ thể cần thiết. Đầu tiên, đó phải là những con tàu có khả năng vận chuyển một đến hai khẩu pháo cùng khoảng ba mươi người; những con tàu này không cần động cơ, mà chỉ sử dụng buồm để di chuyển. Thứ hai, khi di chuyển trên sông hồ, những con tàu này cần phải ổn định, đáng tin cậy, không dễ bị lật và có độ sâu thấp. Thứ ba, chúng cần phải dễ dàng điều khiển, và các binh sĩ dân quân sau khi được đào tạo trong thời gian ngắn cũng có thể sử dụng chúng một cách nhanh chóng.

Khi xem xét tất cả những yêu cầu này, câu trả lời duy nhất còn lại là… những con tàu bè có đáy phẳng.

Trước khi Rolan du hành đến thế giới này, loại tàu có độ sâu thấp và trọng tâm thấp như vậy rất phổ biến, xuất hiện ở hầu hết các tuyến đường sông quan trọng. Những con tàu này thường được chất đầy cát sỏi hoặc đá cuội, và đáy tàu gần như ngang bằng mặt nước; chỉ cần có một con tàu kéo, chúng có thể di chuyển như những đoàn tàu hỏa vậy.

Sau khi xác định được hình dạng của con tàu, bước tiếp theo quan trọng là lựa chọn vật liệu để chế tạo nó. Rolan ghi xuống giấy ba lựa chọn: gỗ, sắt, xi măng.

Việc sử dụng gỗ để làm tàu là bước đầu tiên trong quá trình phát triển công nghệ hàng hải của loài người; từ những chiếc thuyền bè đơn giản cho đến các tàu chiến có buồm, từ sông hồ đến đại dương, thuyền gỗ luôn là lựa chọn bền vững. Tuy nhiên, Rolan không biết cách sử dụng gỗ nguyên khối để chế tạo những con tàu bè này, và cũng

Quá trình xây dựng cũng đơn giản hơn nhiều so với việc chế tạo những con thuyền bằng sắt; chỉ cần dùng các khuôn gỗ để tạo hình thể cho con thuyền, sắp xếp các thanh sắt dùng làm cáp bằng thép vào đúng vị trí, sau đó mới rót xi măng lên trên. Ngay cả ở quê nhà nông thôn, người ta cũng có thể chế tạo được vài chiếc thuyền xi măng nhỏ để đi câu cá. So với những con thuyền bằng sắt cần phải đánh bóng và sơn phủ định kỳ, những con thuyền này sau khi hoàn thành thậm chí không cần bảo trì gì cả; chúng vừa rẻ tiền vừa bền chắc. Ngay cả khi mình chưa từng học cách chế tạo những con tàu biển lớn, thì việc làm một chiếc thuyền xi măng dùng cho vận chuyển hàng trên sông với yêu cầu kỹ thuật không cao lắm, chắc cũng không thành vấn đề chứ?

Với tâm thế thử sức, Rolan cầm lấy cây bút lông ngỗng và nhanh chóng vẽ phác thảo cho con thuyền.

……

Bên bờ sông Chích Thủy, một cái lều có tường bao quanh đã được dựng lên.

Để thuận tiện cho việc xuống nước, Rolan đã chọn địa điểm xây dựng thật gần bờ sông.

Lều này có thể che chắn khỏi gió tuyết, và bên trong luôn có hai chậu than đang cháy để đảm bảo nhiệt độ không quá thấp, ảnh hưởng đến quá trình đông cứng của xi măng.

Các khuôn gỗ do thợ mộc chế tạo đã được ghép lại với nhau, tạo nên hình dạng cơ bản của thân thuyền: mũi thuyền hình vòng cung để giảm lực cản khi di chuyển, phần đuôi thuyền hình vuông để tăng diện tích chứa hàng. Chiều rộng của thuyền khoảng 24 thước (8 mét), tỷ lệ chiều dài so với chiều rộng là 3:1; so với những con thuyền thông thường có tỷ lệ 8:1, thì con thuyền này thực sự có hình dạng “béo tròn” một chút. Ở giữa thuyền có hai cột buồm; các cột buồm được đặt sâu dưới đáy thuyền và được liên kết với những thanh sắt chạy dọc theo trục giữa thuyền. Phía đuôi thuyền còn được đặt một cái cọc gỗ, dành để làm chỗ gắn bánh lái. Những nơi khác trên thuyền đều được lát đầy các thanh sắt chéo nhau.

Việc không có dây sắt để buộc chặt các thanh sắt cũng không sao cả; Anna đã tự mình hàn chúng lại với nhau ở những điểm giao nhau, tạo thành một lưới sắt phủ khắp đáy thuyền.

Khi “khuôn mẫu” và “cáp bằng thép” đã sẵn sàng, Rolan ra lệnh cho công nhân bắt đầu công việc đổ xi măng.

Xi măng đã được trộn sẵn được đổ từng chậu vào khuôn; phần giữa khuôn có đáy phẳng, còn xung quanh cao hơn khoảng 1,5 mét, tạo thành thành các bức tường bên trong thuyền. Nhìn từ xa, nó giống hệt một chiếc bồn tắm hình dạng đặc biệt.

Tất cả mọi người tham gia công việc xây dựng, bao gồm cả Anna, đề

1/1 0%