lore

Chương 4573: Kế hoạch hỗ trợ lẫn nhau trong nông nghiệp số hóa

9,159 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhóm nghiên cứu và phát triển của Triệu Tiểu Đông đã điều chỉnh kế hoạch sản phẩm dựa trên những đề xuất này. Hệ thống “Linh Hồ Nông Trí” mà họ phát triển bao gồm hai phần: phần cứng và phần mềm. Phần cứng gồm các cảm biến đất giá rẻ, trạm khí tượng và máy bay không người lái cỡ nhỏ; các cảm biến được đặt dưới đất và dữ liệu sẽ tự động được truyền lên đám mây; máy bay không người lái có thể tự động kiểm tra và ngay lập tức gửi cảnh báo khi phát hiện sâu bệnh. Phần mềm là một ứng dụng di động, hỗ trợ thao tác bằng giọng nói và ngôn ngữ địa phương; nông dân chỉ cần nói “Tiểu Vũ ơi, xem lúa mì nhà tôi phát triển thế nào”, hệ thống sẽ tự động phân tích dữ liệu và đưa ra báo cáo chẩn đoán cùng lời khuyên về cách trồng trọt.

Để đảm bảo tính thực tiễn của sản phẩm, Đồng Quân đã mời 20 chuyên gia nông nghiệp có kinh nghiệm tham gia vào nhóm tư vấn, trong đó có ông Wang – người được công nhận là tấm gương lao động quốc gia và là một nông dân trồng lúa lớn. “Máy bay không người lái này thật tốt, nhưng ở đây đất đai nhỏ và còn trồng cây ăn quả nữa, làm sao máy bay có thể bay vào được?” Ông Wang đã đặt câu hỏi tại hội thảo.

Nhóm nghiên cứu và phát triển lập tức điều chỉnh kế hoạch và phát triển một loại “robot leo cây” cỡ nhỏ, có thể di chuyển dọc theo thân cây để kiểm tra sâu bệnh và tình trạng phát triển của quả cây ở khoảng cách gần. Sau khi thử nghiệm, ông Wang đã ngay lập tức khen ngợi: “Điều này thật tuyệt vời! An toàn hơn việc con người leo cây, và còn quan sát rõ ràng hơn nữa; từ nay trở đi, việc chăm sóc cây ăn quả sẽ không còn là vấn đề nữa.”

Trung tâm thử nghiệm nông nghiệp đầu tiên được chọn tại Thương Khâu, Hà Nam – một khu vực trồng lúa quan trọng của cả nước và cũng là quê hương của Đồng Quân. Khi nhóm nghiên cứu và phát triển đưa hệ thống “Linh Hồ Nông Trí” đến tay nông dân, nhiều người vẫn còn nghi ngờ. “Tôi trồng trọt cả đời rồi, cần gì đến máy móc để hướng dẫn cách làm nữa?” Ông Lý tỏ vẻ không tin tưởng.

Chú của Đồng Quân đã đứng ra đầu tiên thử nghiệm hệ thống này: “Tôi sẽ dùng trước! Năm ngoái nhà tôi trồng ớt nhưng không thu hoạch được gì cả; năm nay tôi đã dựa vào hệ thống này.” Ông đã làm theo lời khuyên của hệ thống, điều chỉnh mật độ trồng trọt, tưới nước một cách chính xác dựa trên độ ẩm của đất, và kịp thời phun thuốc phòng trừ sâu bệnh khi hệ thống cảnh báo. Sau ba tháng, ớt của ông phát triển rất tốt, cao hơn nhiều so với nhà hàng xóm.

Thấy điều này, ông Lý đã tìm đến nhóm nghiên cứu và phát triển: “Các bạn hãy lắp đặt hệ thống này cho nhà tôi nữa đi! Nhìn thấy ớt nhà ông Tong phát triển tốt như vậy, tôi mới tin rằng máy móc này thực sự hiệu quả.” Những nông dân đã trải nghiệm được lợi ích từ hệ thống này đều đến tìm hiểu và yêu cầu lắp đặt; chưa đầy một tháng, đã có hơn 200 hộ nông dân tại trung tâm thử nghiệm lắp đặt hệ thống “Linh Hồ Nông Trí”.

Nhưng khi chương trình thí điểm bước vào mùa thu hoạch, lại xuất hiện những vấn đề mới. Nông dân thu được nhiều lương thực và rau củ, nhưng lại không thể bán được với giá tốt. “Những người mua hàng đặt giá quá thấp, một cân ngô chỉ được bán với giá tám mươi phần trăm đồng, trừ đi chi phí sản xuất thì gần như không còn lợi nhuận nào cả,” ông Lý nói với vẻ lo lắng. “Chúng tôi trồng ra những sản phẩm tốt, nhưng không biết nên bán cho ai.”

Sau khi nhận được tin tức, Vũ Hạo lập tức đến thăm Thương Khâu. Ông đã điều tra thực tế tại chợ nông sản địa phương và nhận ra rằng vấn đề chính nằm ở việc kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ. Nông dân thiếu thông tin, chỉ có thể bán sản phẩm cho những người mua hàng địa phương, và không có kênh nào để kết nối trực tiếp với các thị trường lớn hay các nền tảng thương mại điện tử. “Đây là sự sơ suất của chúng ta,” Vũ Hạo nói ngay lập tức. “Chúng ta không chỉ cần giúp nông dân trồng ra những sản phẩm tốt, mà còn phải giúp họ bán được với giá tốt. Dương Phiên, ngay lập tức tăng tốc xây dựng nền tảng thương mại điện tử nông sản, kết nối với các siêu thị, doanh nghiệp ăn uống và các nền tảng thương mại điện tử ở các thành phố lớn, để tạo ra những kênh cung ứng trực tiếp từ cánh đồng đến bàn ăn.”

Nhóm của Dương Phiên đã làm việc suốt đêm và chỉ trong nửa tháng đã xây dựng xong nền tảng thương mại điện tử “Linh Hồ Nông Tươi”. Nền tảng này không chỉ hỗ trợ việc bán hàng trực tuyến cho các sản phẩm nông sản, mà còn tích hợp chức năng truy xuất nguồn gốc. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã QR là có thể biết được quy trình trồng trọt, báo cáo kiểm định và dữ liệu về sự phát triển của các sản phẩm nông sản đó.

Đồng thời, đội ngũ của Dương Phàm cũng đã thiết lập quan hệ hợp tác trực tiếp với hơn hai mươi siêu thị lớn và các doanh nghiệp ăn uống có hệ thống tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thâm Quyến, Dương Châu, v.v., và ký kết các thỏa thuận cung cấp trực tiếp sản phẩm.

Để giúp các nông dân làm quen với cách thức vận hành thương mại điện tử, Đồng Quân đã tổ chức các khóa học đào tạo về lĩnh vực này, mời các giảng viên chuyên nghiệp đến giảng dạy trực tiếp tại hiện trường. Xét đến việc nhiều nông dân chưa biết sử dụng điện thoại thông minh, các khóa học đào tạo này còn được biên soạn thành sách hướng dẫn kèm hình ảnh sinh động, đồng thời nhân viên của đội ngũ nghiên cứu và phát triển cũng được sắp xếp để hướng dẫn từng người một. Sau khi học được cách bán hàng trực tuyến, ông Lý đã nói với niềm vui: “Ngô nhà tôi được bán qua nền tảng này cho các siêu thị ở Thượng Hải, với giá 1,2 nhân dân tệ mỗi cân, tức là tôi kiếm được nhiều tiền hơn so với khi bán cho các nhà mua hàng. Bây giờ, mỗi ngày tôi đều có thể theo dõi các đơn hàng trên điện thoại, và không còn lo lắng về việc không bán được hàng nữa.”

Đúng vào lúc hoạt động kinh doanh “AI + nông nghiệp” đang diễn ra thuận lợi, Trương Tuấn đã mang đến một cơ hội hợp tác quan trọng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã khởi động dự án “Huyện mẫu về nông nghiệp số”, với kế hoạch triển khai công nghệ nông nghiệp số tại ba mươi huyện trên toàn quốc, và mời chúng tôi tham gia với tư cách là đơn vị hỗ trợ công nghệ cốt lõi.

Nếu chúng ta có thể giành được dự án này, hệ thống “Hào Vũ Nông Trí” của chúng ta sẽ nhanh chóng được triển khai trên toàn quốc, giúp nhiều nông dân tăng thu nhập và làm giàu hơn.”

Tuy nhiên, lần này cuộc cạnh tranh cũng rất khốc liệt; có tới năm công ty lớn tham gia đấu thầu, bao gồm cả các tập đoàn nông nghiệp hàng đầu trong nước và các công ty công nghệ nông nghiệp nổi tiếng quốc tế. “Yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn rất rõ ràng: không chỉ cần xem xét đến phương án kỹ thuật, mà còn phải đánh giá hiệu quả thực tế của việc trồng trọt và mức độ hài lòng của nông dân; đồng thời cũng cần lưu ý đến nhu cầu của các hộ nông dân nhỏ và những hộ có thu nhập thấp,” Trương Tuấn giải thích thêm. “Họ nhấn mạnh rằng nông nghiệp số không chỉ nên phục vụ những hộ trồng trọt lớn, mà còn cần giúp các hộ nông dân nhỏ hòa nhập vào hệ thống nông nghiệp số.”

Ngô Hoà quyết định tự mình dẫn đầu nhóm làm việc để chuẩn bị đề xuất đấu thầu. Ông chia nhóm thành năm nhóm nhỏ: nhóm thứ nhất chịu trách nhiệm tối ưu hóa phương án kỹ thuật, nhấn mạnh vào những ưu điểm cốt lõi như “chi phí thấp, dễ sử dụng, tính chính xác cao”; nhóm thứ hai thu thập dữ liệu về quá trình trồng trọt tại các cơ sở thí điểm và phản hồi của nông dân, sử dụng những số liệu thực tế về sản lượng tăng và những đánh giá tích cực của nông dân để chứng minh giá trị của sản phẩm; nhóm thứ ba soạn thảo các chính sách hỗ trợ dành cho các hộ nông dân nhỏ, đưa ra những ưu đãi như “chia sẻ cảm biến” hay “mua sắm tập thể” phù hợp với đặc điểm của họ; nhóm thứ tư tập trung xây dựng hệ thống thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp, giúp nông dân tạo dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng cho khu vực của mình.

Năm nhóm được giao nhiệm vụ tăng cường sự hợp tác với chính quyền địa phương và các cơ quan kỹ thuật nông nghiệp, nhằm đảm bảo rằng các công nghệ mới có thể được áp dụng một cách hiệu quả.

Khi chuẩn bị kế hoạch hỗ trợ các hộ nông dân nhỏ, Đồng Quân nhận thấy họ đang đối mặt với ba vấn đề chính: thứ nhất là thiếu vốn, không đủ khả năng mua sắm thiết bị thông minh; thứ hai là quy mô trồng trọt còn nhỏ, nên khả năng đàm phán giá cả yếu; thứ ba là thiếu ý thức về thương hiệu, khiến sản phẩm nông nghiệp không thể bán với giá tốt. “Chúng ta có thể thực hiện một ‘Chương trình hỗ trợ lẫn nhau trong nông nghiệp số’ không?” cô đề xuất với Vũ Hạo, “Công ty và chính quyền địa phương cùng đóng góp kinh phí, cung cấp miễn phí thiết bị thông minh và đào tạo kỹ thuật cho các hộ nông dân nhỏ; tổ chức họ thành các hợp tác xã để mua sắm vật tư nông nghiệp và bán sản phẩm chung, từ đó nâng cao khả năng đàm phán giá cả; đồng thời giúp các hợp tác xã xây dựng thương hiệu đặc trưng cho khu vực, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp.”

“Ý tưởng này rất tốt,” Vũ Hạo ngay lập tức bày tỏ sự ủng hộ, “Các hộ nông dân nhỏ là lực lượng chính trong sản xuất nông nghiệp; việc giúp họ hòa nhập vào hệ thống nông nghiệp số chính là chìa khóa để thực hiện sự phát triển mạnh mẽ của nông thôn. Chi phí cho ‘Chương trình hỗ trợ lẫn nhau trong nông nghiệp số’ sẽ được công ty và quỹ trách nhiệm xã hội cùng gánh vác, đồng thời chúng ta cũng sẽ nỗ lực nhận được các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, nhằm tạo ra sự phối hợp đa phía.”

1/1 0%