lore

Chương 4462: Bình minh mới mẻ

6,843 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ngô Hoà ra hiệu cho biết có thể truy xuất dữ liệu kiểm thử, và trên màn hình lập tức xuất hiện một nhóm đường cong động: Trong quá trình kiểm thử tuần hoàn ở nhiệt độ từ -40°C đến 60°C, tình trạng điện trở bằng không của lớp phim siêu dẫn đã kéo dài đến 180 ngày, với tỷ lệ suy giảm hiệu suất chỉ là 0,3%. “Đây là kết quả kiểm thử thực địa của chúng tôi tại Mò Hà và Tân Cương,” anh chỉ vào đoạn đường cong phẳng, “Lớp bảo vệ bằng graphene trên bề mặt lớp phim có thể ngăn cản hiệu quả hơi nước và oxy; ngay cả trong thời tiết bão cát, điều này cũng không ảnh hưởng đến khả năng siêu dẫn.”

Bỗng nhiên, Hansen cười lạnh và ngắt lời: “Những dữ liệu này đều do công ty các bạn cung cấp một chiều, chưa được bên thứ ba xác minh. Hơn nữa, theo như tôi biết, lớp phim hydrua của các bạn vẫn sẽ bị phân hủy chậm rãi trong môi trường không khí; đây chẳng phải là một khiếm khuyết nghiêm trọng sao?”

Ngô Hoà không trực tiếp phản bác, mà lấy ra một hộp acrylic trong suốt từ túi xách – bên trong, lớp phim siêu dẫn đã được để ở nhiệt độ phòng trong 30 ngày nhưng vẫn giữ được ánh sáng tím nhạt. “Đây là mẫu vật dành cho mọi người,” anh đẩy hộp ra giữa bàn, “Các bạn có thể mang về phòng thí nghiệm của mình để kiểm tra. Ngoài ra, chúng tôi đã mời Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế đến công ty Hao Yu Technology vào tuần sau để giám sát toàn bộ quá trình sản xuất hàng loạt; tất cả dữ liệu sẽ được công bố ngay lập tức.”

Chính lúc đó, ánh sáng trong phòng họp đột nhiên giảm xuống 0,5 lux. “Thưa ngài, chúng tôi đã phát hiện ra sự can thiệp điện từ mạnh từ bên ngoài,” giọng nói của Coco vang lên qua tai nghe truyền âm, “Hệ thống sonar cho thấy có một tàu ngầm hạt nhân loại ‘Seawolf’ đang cố gắng thu thập tín hiệu liên lạc của chúng ta.”

Ngón tay Ngô Hoà nhẹ nhàng gõ lên mặt bàn, theo nhịp độ y hệt khi anh còn là sinh viên và đang điều chỉnh máy oscilloscope trong phòng thí nghiệm. “Thưa ông Hansen,” anh ngẩng đầu lên, ánh mắt bình tĩnh nhưng sâu sắc, “Siêu dẫn ở nhiệt độ phòng không phải là vũ khí; không cần đến tàu ngầm hạt nhân để ‘bảo vệ’ nó. Khi những ngôi làng ở châu Phi có thể sử dụng điện năng ổn định, khi máy MRI trong bệnh viện không còn phụ thuộc vào nitơ lỏng, khi tổn thất truyền điện trên toàn cầu giảm xuống còn 0,1%… Những thay đổi như vậy mới thực sự có thể mang lại hòa bình cho thế giới, hơn bất kỳ lực lượng quân sự nào.”

Bên dưới mặt nước, hệ thống thông gió trong phòng họp đột nhiên phát ra tiếng ồn nhẹ; đàn cá bạch tuộc bên ngoài tấm kính acrylic lại m

“Anh Hòa ơi, đoàn kiểm tra của công ty lưới điện châu Âu sẽ đến vào ngày mai,” Lão Trần nói, cầm trên tay bản kế hoạch thử nghiệm và cau mày, “Họ yêu cầu phải thực hiện màn trình diễn trực tiếp để chứng minh rằng loại màng này có thể hoạt động liên tục trong 72 giờ ở nhiệt độ -30°C và độ ẩm 80%, đồng thời điện trở phải luôn ổn định không xảy ra biến động – Điều này cao hơn tiêu chuẩn thử nghiệm trước đây của chúng ta ba cấp độ.”

Ngô Hoà đứng trước buồng thí nghiệm nhiệt độ cao, nhìn qua cửa sổ quan sát vào mẫu vật màng bên trong – Bề mặt màu tím nhạt đã xuất hiện những hạt sương trắng siêu nhỏ, đó là dấu hiệu của hơi nước ngưng tụ ở nhiệt độ cao. “Hãy hạ độ ẩm trong buồng thí nghiệm ổn định nhiệt độ và độ ẩm xuống còn 85% trước,” anh nói, sau đó cầm máy đo nhiệt độ hồng ngoại và đặt nó vào gần bề mặt mẫu vật, “Đồng thời kích hoạt chương trình ‘tăng nhiệt độ theo từng giai đoạn’, tăng nhiệt độ 5°C mỗi giờ và ghi lại sự thay đổi của điện trở ở các nhiệt độ khác nhau.”

Bỗng nhiên, kỹ sư thử nghiệm Tiểu Lý hét lên: “Ông Ngô ơi, điện trở của mẫu vật trong buồng thí nghiệm nhiệt độ thấp đang bị biến động! Hiện tại nhiệt độ là -38°C, giá trị điện trở đã tăng từ 0Ω lên thành 0,002Ω!”

Ngô Hoà lập tức vội vàng đến bên buồng thí nghiệm. Đường cong điện trở trên màn hình giống như những sợi dây bị gió thổi mà dao động nhẹ. Anh nhớ lại những ngày tháng khi còn học đại học tại phòng thí nghiệm nhiệt độ thấp: Lúc đó không có thiết bị chuyên dụng, họ chỉ có thể sử dụng hỗn hợp băng khô và cồn để tạo ra môi trường nhiệt độ thấp; mỗi lần thử nghiệm, họ đều phải theo dõi cẩn thận nhiệt kế, sợ rằng sự biến động của nhiệt độ sẽ ảnh hưởng đến kết quả. Còn bây giờ, buồng thí nghiệm nhiệt độ thấp của phòng thí nghiệm có thể kiểm soát nhiệt độ với độ chính xác lên đến ±0,01K, nhưng vẫn có thể xảy ra những sự cố bất ngờ.

“Hãy kiểm tra lại thiết bị cố định mẫu vật,” Ngô Hoà nói một cách bình tĩnh, “Có thể là do vật liệu chế tạo kẹp trong môi trường nhiệt độ thấp co rút, khiến cho mẫu vật không được cố định chặt chẽ. Ngoài ra, hãy yêu cầu Koko sử dụng nút tính toán số 5 để mô phỏng sự phân bố áp lực lên mẫu vật ở nhiệt độ -40°C, xem liệu cấu trúc tinh thể có bị biến dạng nhỏ hay không.”

Nửa giờ sau, Tiểu Lý chạy đến với

Khi ông Trần gật đầu, ông chú ý đến tủ trưng bày ở góc phòng thí nghiệm – bên trong đó được trưng bày tất cả các ghi chép thí nghiệm của Ngô Hoà từ khi còn học đại học cho đến hiện tại. Quyển mới nhất được mở ra, và trên đó có dòng chữ được viết bằng bút đỏ: “Siêu dẫn không phải là điểm kết thúc, mà là khởi đầu để nhiều công nghệ khác được ứng dụng rộng rãi.”

Tại hiện trường dự án thử nghiệm mạng lưới siêu dẫn ở thành phố Binh Hải, Ngô Hoà mặc bộ đồ công nhân màu xanh, đang cúi người kiểm tra các đầu nối cáp. Ánh nắng mặt trời chiếu qua mặt nạ trong suốt của mũ bảo hiểm, tạo nên những bóng đổ nhỏ trên khuôn mặt anh; phía xa, những cần cẩu đang nâng những cuộn cáp siêu dẫn màu tím nhạt lên cao, tạo nên một tấm lưới bạc trên bầu trời thành phố.

“Thưa ngài, đoàn kiểm tra của công ty lưới điện châu Âu đã đến nơi,” giọng Coco vang lên qua tai nghe Bluetooth, “Họ mang theo thiết bị kiểm tra của bên thứ ba và yêu cầu tiến hành thử nghiệm trực tiếp để đánh giá tính năng siêu dẫn của cáp. Ngoài ra, Cơ quan Năng lượng Liên hợp quốc vừa gửi thông báo chúc mừng, quyết định trao ‘Giải Thưởng Đổi mới Năng lượng Toàn cầu’ cho công ty Hao Yu Technology.”

Ngô Hoà đứng dậy và nhìn về phía đoàn kiểm tra đang tiến lại gần – bà Miller đi đầu, cầm theo hộp mẫu được trao tặng tại cuộc họp trước đó. “Bà Miller, chào mừng bà đến Binh Hải,” anh đưa tay ra, “Hôm nay, các bạn không chỉ được xem các số liệu thử nghiệm mà còn có thể chứng kiến trực tiếp hoạt động thực tế của mạng lưới siêu dẫn này – nhóm cáp phía sau chúng ta đã cung cấp điện cho ba khu dân cư gần đây trong 72 giờ liền, với tỷ lệ tổn thất điện năng chỉ là 0,08%.”

Bà Miller mở hộp mẫu; lớp màng bên trong vẫn giữ nguyên màu tím nhạt. “Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra toàn diện tại phòng thí nghiệm ở Đức, và hiệu suất của lớp màng này còn tốt hơn cả những gì được quảng bá, đặc biệt là trong môi trường nhiệt độ thấp -25°C, trạng thái điện trở bằng không rất ổn định.” Bà chỉ về phía những cần cẩu phía xa, “Chúng ta có thể bắt đầu thử nghiệm trực tiếp ngay bây giờ chứ? Thiết bị mà chúng tôi mang theo có thể đo được sự thay đổi điện trở với độ chính xác lên đến 0,0001 Ω.”

1/1 0%