lore

Chương 4345: Hãy để những ý tưởng va chạm dưới ánh nắng mặt trời.

7,164 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Anh ấy vỗ vai Ngô Hoà và nói: “Trước đây người ta thường nói rằng việc chuyển từ quân nhân sang dân sự hoặc ngược lại có nhiều rào cản, nhưng studio của các bạn đã phá bỏ những rào cản đó, để những ý tưởng được gặp gỡ và trao đổi dưới ánh nắng mặt trời – điều này thật tuyệt vời.”

Các chuyên gia thuộc Viện Khoa học đi cùng không khỏi bình luận khi nhìn vào bản đồ quảng bá sản phẩm “vật liệu làm mát lều trong sa mạc”: “Lớp chống nhiệt phản chiếu do sinh viên thực tập đó thiết kế, chúng tôi cũng muốn sử dụng nó trong dự án quản lý lưu vực của mình; ở những khu vực khô hạn, việc giám sát sinh thái cũng đối mặt với vấn đề nhiệt độ cao, và những chiếc lều ngoài trời cũng cần những vật liệu tương tự.”

“Điều này không chỉ là đổi mới công nghệ, mà còn biến những ‘bước đột phá cá nhân’ thành lợi ích cho tất cả mọi người; khả năng lan tỏa như vậy thực sự rất quan trọng.”

Phía cuối hành lang, bên ngoài cửa sổ, một số thanh niên đang xem xét mô hình thu nhỏ của “Người đi trong cát”; có người quỳ xuống vẽ đường đi, có người điều chỉnh góc độ của tấm pin năng lượng mặt trời… Tiếng cười của họ bay vào trong qua làn gió.

Giáo sư Chu nhìn vào cảnh tượng nhộn nhịp ấy và nói với mọi người: “Lâm Khê vừa nói rằng ‘Người đi trong cát’ có thể hoạt động liên tục mà không cần nghỉ ngơi, nhưng tôi thấy chính studio này mới là ví dụ tiêu biểu cho điều đó. Bởi vì nó không dựa vào một cá nhân hay một dự án cụ thể, mà là vào ngọn lửa trong trái tim những người trẻ tuổi này, và vào hệ thống giúp ngọn lửa đó luôn cháy mãi.”

Phó tổng giám đốc Trương gật đầu đồng tình: “Trước đây chúng ta thường lo lắng rằng những người trẻ không thể tập trung, nhưng bây giờ chúng ta nhận ra rằng chính chúng ta đã không tạo ra môi trường phù hợp cho họ. Nhìn những đứa trẻ ở đây, chúng có thể biến những tấm pin năng lượng mặt trời thành những “viên pha lê”, biến những con robot thành “những linh hồn sa mạc”… Điều đó không phải vì chúng không chịu đựng được sự cô đơn, mà là vì chúng ta chưa cho chúng một sân khấu để thể hiện khả năng của mình.”

Ngô Hoà nhìn vào ánh mắt đầy tin tưởng của mọi người và bỗng nhớ lại lúc studio mới được thành lập, có người từng nói rằng “thực hiện đổi mới ở vùng Tây Bắc chính là tự chuốc khổ vào thân”. Nhưng lúc này, gió thổi qua lá cây của Hồ Dương, mang theo hơi ấm từ những tấm pin năng lượng mặt trời xa xôi, và anh chợt hiểu ra rằng đổi mới thực sự không phải là việc lựa chọn giữa đất màu mỡ hay sa mạc, mà là việc có thể trồng nên mùa xuân của riêng mình ở bất c

Khi mặt trời lặn làm cho sa mạc Gobi chuyển thành một màu vàng rực rỡ, chiếc xe đưa khách đang từ từ di chuyển dọc theo con đường nằm giữa các tấm pin năng lượng mặt trời.

Trong kính xe, hình ảnh của hơn ba mươi nghìn tấm pin màu xanh đậm hiện lên rõ ràng; mỗi tấm đều như một tấm gương được ánh nắng hoàng hôn “hôn lên”, phản chiếu những tia sáng cuối cùng xuống khuôn mặt của các thành viên trong đoàn khảo sát.

Ngô Hoà nhìn đồng hồ, đã 6 giờ chiều rồi – thời gian kết thúc chuyến đi còn sớm hơn kế hoạch nửa tiếng.

“Tối nay chúng ta sẽ tổ chức một bữa tiệc nhỏ tại nhà hàng Oasis của căn cứ này; bạn có thể thử thưởng thức rau củ trồng trên sa mạc và món thịt nướng đặc sản địa phương,” Ngô Hoà nói, mỉm cười đề nghị với Giáo sư Chu và Phó Tổng giám đốc Trương.

Anh đã yêu cầu bộ phận nhà bếp chuẩn bị sẵn các loại rau củ tươi ngon như cây goji và hành tây sa mạc, cũng như những quả cà chua được trồng trong nhà kính sử dụng năng lượng mặt trời – loại cà chua này ngọt hơn so với những quả bán trên thị trường khoảng hai phần trăm.

Nhưng Giáo sư Chu lắc đầu và nói: “Thôi, không cần tổ chức tiệc đâu; việc đó sẽ tốn quá nhiều thời gian. Chúng ta hãy tổ chức một buổi thảo luận vào lúc 7 giờ rưỡi tối để ôn lại những thông tin kỹ thuật đã thấy trong ngày; vẫn còn một số chi tiết cần thảo luận kỹ hơn.”

Ông lấy cuốn sổ ra khỏi túi xách; trang bìa cuốn sổ đã đầy những ghi chú dày đặc, trong đó từ “ma trận lưu trữ năng lượng hỗn hợp” đã được đánh dấu ba lần.

Phó Tổng giám đốc Trương cũng gật đầu đồng ý: “Giáo sư Chu nói đúng; bây giờ chúng ta đang rất hứng thú, nên tận dụng thời gian này để hiểu rõ mọi vấn đề. Hơn nữa, căn cứ của các bạn quá lớn; từ nhà hàng đến phòng họp phải mất nửa tiếng đi lại. Thà rằng chúng ta chỉ cần tìm một chỗ nào đó trong tòa nhà văn phòng để ăn uống và thảo luận; cách này sẽ hiệu quả hơn nhiều.”

Anh chỉ ra những cây liễu đang bay qua bên ngoài cửa sổ và nói: “Nhìn những cây này mọc um tùm thế này, chứng tỏ các bạn đã làm rất tốt công việc; chắc chắn bữa ăn tối sẽ rất ngon đấy.”

Thấy mọi người đều kiên trì, Ngô Hoà liền yêu cầu Kỳ Quảng Khôn thông báo với bộ phận hậu cần để thay đổi địa điểm tổ chức bữa tối sang nhà hàng nhỏ ở tầng một của tòa nhà văn phòng.

Nơi đây thường là nơi các nhà nghiên cứu ăn uống; những chiếc bàn dài bằng gỗ được kèm theo ghế dài bằng dây thừng, trên tường treo đầy những bức ảnh về

“Đây là rau vừa được hái sáng nay từ đồng thí nghiệm,” Ngô Hoà vừa phân phát mì cho mọi người vừa giải thích: “Chúng tôi đã sử dụng vi khuẩn chịu mặn từ phòng thí nghiệm Môi trường cực đoan để cải tạo đất; những khu đất mặn bạch trước đây trồi cái gì cũng chết, bây giờ có thể trồng được hơn hai mươi loại rau củ.”

Các chiến sĩ đi tuần tra qua đây thường xuyên hái dưa chuột để uống giải khát.

Phó Tổng Giám đốc Trương Tiểu Lệ đang say sưa ăn mì, nghe vậy liền ngẩng đầu cười nói: “Đó mới chính là thứ thực sự quý giá. Dù vũ khí có tiên tiến đến đâu, điều quan trọng nhất vẫn là phải đảm bảo cuộc sống thoải mái cho những người canh gác ở đây.”

Anh ấy bỗng nhiên nhớ ra điều gì đó, quay sang hỏi Trương Tiểu Lệ: “Về hệ thống lưu trữ năng lượng trên xe và mô-đun bù công suất trong điều kiện nhiệt độ thấp mà các bạn đã nói vào buổi trưa, các bạn sử dụng cấu trúc mạch loại nào vậy? Khi tôi xem bản vẽ, tôi thấy nó khác với mạch buck-boost truyền thống.”

Trương Tiểu Lệ đặt đũa xuống, lau mép miệng bằng khăn ăn rồi trả lời: “Đúng vậy, chúng tôi đã thực hiện một số cải tiến, bổ sung thêm mạng inductor song song xen kẽ.”

“Trong mạch truyền thống, khi nhiệt độ giảm xuống -30°C, tổn thất khi đóng/mở mạch sẽ tăng lên 40%; chúng tôi đã nâng tần số từ 20kHz lên 50kHz, kết hợp với tấm tản nhiệt bằng graphene, tổn thất này đã giảm xuống dưới 15%.”

Cô ấy vươn tay lấy chiếc bảng thông tin trong suốt từ tay nhân viên, mở hình ảnh sóng mô phỏng ra và chỉ cho Phó Tổng Giám đốc xem: “Hãy xem nhóm dữ liệu so sánh này nhé: màu xanh là trước khi cải tiến, màu đỏ là sau khi cải tiến; hệ số giao động đã giảm hơn một nửa.”

Ông Chủ Wang đang gặm xương cừu, nghe vậy liền tiến lại gần xem và hỏi: “Công nghệ này có thể áp dụng cho hệ thống nguồn điện khẩn cấp trên tàu chiến không?”

Lần diễn tập ở Biển Nam Trung Hải trước đây, động cơ diesel của một tàu hộ tống đột nhiên ngừng hoạt động; bộ pin dự phòng do bị bảo vệ khi nhiệt độ cao mà suất ra điện giảm xuống 30%, suýt nữa ảnh hưởng đến việc phóng tên lửa.

“Hoàn toàn phù hợp,” Ngô Hoà trả lời: “Khi chúng tôi thiết kế bộ pin cho tàu ngầm, chúng tôi đã đặc biệt kiểm thử trong điều kiện nhiệt độ cao. Trong khoang kín ở nhiệt độ 60°C, sau 500 lần sạc/xả liên tục, tỷ lệ giữ dung lượng vẫn đạt 92%. Nhiệt độ trong khoang nguồn điện khẩn cấp trên tàu chiến tối đa cũng chỉ khoảng 4

1/1 0%