lore

Chương 4346: Hội thảo chuyên gia

7,144 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Kỳ Quảng Khôn gật đầu nói: “Đây là các node cảm biến phân tán của chúng tôi; chúng không chỉ có thể điều chỉnh độ sáng mà còn có thể theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, lực gió, thậm chí còn có thể phát hiện ra xe cộ xâm nhập thông qua cảm biến rung.”

“Trước đây, chúng ta phải cử người đi tuần tra riêng; nhưng bây giờ hệ thống tự động cảnh báo trước, và tuần trước, nó còn giúp liên đội biên phòng bắt được một kẻ vi phạm quy định về biên giới.”

Nói xong, anh uống một ngụm rượu đường rồi tiếp tục: “Các node này đều sử dụng pin rắn cấp công nghiệp – loại pin rẻ tiền nhưng bền bỉ, có thể chịu đựng được cả cái lạnh giá của mùa đông lẫn cái nóng gay gắt của mùa hè.”

Giáo sư Chu đặt chiếc bát xuống, lau tay bằng khăn ăn và hỏi: “Điều khiến tôi quan tâm nhất là ma trận lưu trữ năng lượng hỗn hợp đó. Algo tích hợp giữa tụ điện siêu nhanh và pin rắn mà các bạn sử dụng là kiểm soát mờ hay PID?”

Ông nhớ Ngô Hoà đã từng so sánh chúng với “vận động viên chạy nước rút và vận động viên marathon” vào ban ngày, nhưng không biết cụ thể logic điều khiển là gì.

“Chúng tôi sử dụng algoritme tự thích nghi kết hợp cả hai phương pháp đó,” Ngô Hoà trả lời, sau đó mở hình minh họa trên điện thoại và giải thích: “Trong 0,3 giây trước khi phóng điện, chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm soát mờ để phản ứng nhanh chóng với nhu cầu công suất tức thời; sau đó chuyển sang phương pháp PID để đảm bảo đầu ra ổn định. Giống như khi lái xe: khi khởi động, bạn phải đạp mạnh ga; khi đã chạy ổn định, bạn mới điều chỉnh nhẹ vô lăng.”

“Chúng tôi đã thử nghiệm và thấy rằng cách kết hợp này giúp giảm thiểu mức tiêu hao năng lượng lên đến 12% so với việc sử dụng chỉ một algoritme duy nhất.”

Bên ngoài cửa sổ, bầu trời đã tối hoàn toàn; các đèn đường sử dụng năng lượng mặt trời lần lượt sáng lên, ánh sáng vàng ấm áp len lỏi qua kính cửa sổ, tạo nên một ánh sáng dịu nhẹ trên bàn gỗ.

Phó giám đốc Trương Tiểu Lệ nhìn đồng hồ và nói: “Đã 6 giờ 40 rồi; chúng ta ăn xong rồi, hãy vào phòng họp đi.” Khi đứng dậy, ông bất ngờ cười và nói: “Không ngờ trên sa mạc Gobi mà vẫn có thể thưởng thức bữa ăn ngon như thế này; thật sự còn thoải mái hơn cả bữa tiệc ở khách sạn năm sao.”

Trong phòng họp ở tầng ba tòa nhà văn phòng, máy chiếu đã được bật sẵn; trên màn hình đang luân phiên hiển thị hình ảnh ba chiều của các thiết bị quan trọng mà nhóm đã tham quan vào buổi sáng.

Bên cạnh bàn họp dài

Ngô Hoà đẩy nhẹ microphone, nhìn quanh mọi người và nói: “Hôm nay mọi người đã xem qua một cách vội vàng, nếu có bất kỳ thắc mắc nào, dù là về chi tiết kỹ thuật hay các trường hợp ứng dụng, đều có thể thoải mái chia sẻ.”

Giáo sư Chu lên tiếng trước tiên, ngón tay gõ nhẹ vào cuốn sổ ghi chú và hỏi: “Tôi xin đưa ra một câu hỏi để mọi người thảo luận. Về vấn đề độ ổn định của pin quang điện từ perovskite, các bạn đã giải quyết nó như thế nào?”

“Dữ liệu trong phòng thí nghiệm thường khác xa so với thời gian sử dụng thực tế, đặc biệt là ở những khu vực có gió cát mạnh và tia cực tím gay gắt như vùng Tây Bắc,” ông nói tiếp. “Chúng tôi biết rằng loại vật liệu này có hiệu suất lý thuyết cao, nhưng việc sử dụng lâu dài sẽ khiến hiệu suất giảm sút, và đây là một vấn đề được cả ngành công nhận.”

Kỳ Quảng Khôn mở báo cáo kiểm thử mà họ mang theo và giải thích: “Chúng tôi đã áp dụng ba lớp bảo vệ: lớp ngoài cùng là lớp phủ silic dioxide ở cấp độ nano, có tác dụng chống cát và chống mài mòn; ở giữa là lớp hỗn hợp hữu cơ-vô cơ, giúp chống lại sự lão hóa do tia cực tím; lớp dưới cùng là lớp nền có tính đàn hồi, giúp giảm thiểu biến dạng do sự thay đổi nhiệt độ.”

“Trong thí nghiệm lão hóa tăng tốc, khi mô phỏng điều kiện sa mạc Gobi và để thiết bị dưới ánh nắng mặt trời trong 5000 giờ, hiệu suất chỉ giảm khoảng 8%, tức là cao hơn 15% so với tiêu chuẩn ngành,” anh nói. Rồi anh cho xem một bộ ảnh so sánh: bên trái là viên pin perovskite thông thường, sau 5000 giờ bề mặt xuất hiện nhiều vết nứt, trong khi mẫu bên phải vẫn hoàn toàn bằng phẳng.

Phó tổng giám đốc Trương Tiểu Lệ lập tức hỏi tiếp: “Về hệ thống lưu trữ năng lượng dạng xung của pháo điện từ, việc sạc trong 10 phút chỉ đủ để thực hiện một lần bắn, liệu có thể rút ngắn thời gian này không? Trong chiến đấu thực tế, mỗi giây đều có thể quyết định thắng thua.”

Anh nhớ rằng Trương Tiểu Lệ đã đề cập đến việc cải thiện độ chính xác lên 0,1 giây, nhưng anh quan tâm nhiều hơn đến khả năng chiến đấu liên tục của hệ thống này.

Trương Tiểu Lệ mở đồ thị sạc/xả trên thiết bị và giải thích: “Hiện tại, rào cản chính nằm ở hệ thống tản nhiệt. Sau khi phóng điện với công suất 30 megawatt, nhiệt độ của mô-đun điện dung sẽ tăng lên đến 78°C; thiết bị phải được làm mát xuống dưới 55°C trước khi có thể sạc lại, và quá trình này mất khoảng 8 phút.”

“Chúng tôi đang thử nghiệm giải phá

Ông ấy đang đề cập đến tình huống khắc nghiệt khi mảnh đạn giả mô phỏng đánh trúng buồng pin.

“Chúng tôi đã thực hiện tổng cộng mười hai vòng thử nghiệm.”

Ngô Hoà ra dấu cho Kỳ Quảng Khôn phát video, sau đó giải thích: “Sử dụng đạn 7.62mm bắn vào mô-đun pin từ khoảng cách 5 mét; sau khi đạn xuyên qua vỏ ngoài, pin chỉ bị quá tải cục bộ mà không hề cháy nổ. Sau 30 phút, phần còn lại vẫn có thể sản sinh ra 80% công suất ban đầu. Trong khi đó, các loại pin lithium truyền thống sẽ nổ tung ngay trong thử nghiệm tương tự.”

Trên màn hình, hình ảnh chậm cho thấy ngay lúc đạn xuyên vào, chất điện phân rắn nhanh chóng đông cứng thành lớp cách ly, ngăn chặn sự lan rộng của hiện tượng mất kiểm soát nhiệt độ.

Uông Lương Công luôn theo dõi những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm sinh học; lúc này ông đeo kính và hỏi: “Công nghệ chiết xuất lithium từ vi khuẩn ưa muối đó, chi phí có thể giảm được bao nhiêu? Dự án sản xuất lithium từ hồ muối ở Tây Tạng của chúng ta hiện tại vẫn có chi phí lên đến hơn 30.000 nhân dân tệ mỗi tấn; nếu có thể giảm được, lợi ích kinh tế sẽ rất lớn.”

Tiến sĩ Triệu trình bày biểu đồ quy trình sản xuất và nói: “Ở giai đoạn thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, chi phí đã có thể giảm xuống còn 18.000 nhân dân tệ mỗi tấn; sau khi sản xuất trên quy mô lớn, dự kiến chi phí sẽ giảm xuống còn 15.000 nhân dân tệ mỗi tấn.”

“Điều quan trọng nhất là tính thân thiện với môi trường – các chất chiết xuất trong quy trình truyền thống gây ô nhiễm; trong khi đó, chất chiết xuất từ vi khuẩn của chúng tôi có thể tự phân hủy, giúp giảm chi phí xử lý nước thải xuống 60% so với các phương pháp truyền thống.”

Ông chỉ vào một điểm màu xanh lá trên biểu đồ và nói: “Đây chính là bằng sáng chế then chốt của chúng tôi – thông qua kỹ thuật biên tập gen, tỷ lệ hấp thụ lithium của vi khuẩn đã được nâng cao lên 23%.”

Lúc này, một chuyên gia từ Viện Hàn lâm Khoa học tiếp lời: “Vi khuẩn Deinococcus radiodurans có khả năng hấp thụ đến 92% chất phóng xạ trong nước thải hạt nhân; nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để xử lý những vi khuẩn này sau khi chúng đã hấp thụ chất phóng xạ? Chúng ta không thể cứ để chúng tồn tại mãi được…”

Đây chính là vấn đề chung mà nhiều công nghệ xử lý sinh học đang gặp phải – cách thu gom và xử lý các vật liệu sinh học đã bị nhiễm độc bởi chất ô nhiễm.

“Chúng tôi đã phát triển công nghệ đóng rắn bằng gốm,” Tiến sĩ Triệu nói, đổi sang một biểu đồ khác và tiếp tục giải thích

1/1 0%