lore

Chương 1970: Công nghệ bảo quản chất lượng “thịt” tiên tiến

6,768 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Chúng tôi đã phát triển một thiết bị đặc biệt dùng để nuôi cấy tế bào. Trong thiết bị này, chúng ta tiêm vào dung dịch chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của tế bào, đồng thời tạo ra môi trường mô phỏng giống như môi trường trong cơ thể con người – với nhiệt độ phù hợp, chỉ số HP ổn định, điều kiện vô trùng và cả ánh sáng nữa.

Sau đó, chúng tôi sẽ lấy một lượng nhỏ tế bào gốc từ cơ thể bệnh nhân; lượng này không cần quá nhiều, chỉ cần một ít thôi là đủ, và việc này hoàn toàn không gây hại cho cơ thể bệnh nhân.

Tất nhiên, những tế bào được lấy ra phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nhất định. Nếu không đạt tiêu chuẩn, chúng ta sẽ phải lấy lại tế bào mới. Đôi khi, tế bào trên cơ thể bệnh nhân cũng không thể sử dụng được do các tác động như sử dụng thuốc kéo dài, xạ trị, hóa trị… Những yếu tố này có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng tế bào, khiến chúng không đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết. Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ phải lấy tế bào từ cha mẹ hoặc con cái của bệnh nhân để giảm thiểu nguy cơ phản ứng từ cơ thể bệnh nhân đối với các cơ quan được in ra bằng công nghệ 3D.

Những tế bào đã được lấy ra không thể sử dụng ngay lập tức mà cần phải qua quá trình xử lý trước để duy trì tính hoạt tính của chúng, đồng thời loại bỏ những tế bào không đạt tiêu chuẩn cũng như các tạp chất khác.

Sau khi hoàn thành tất cả các bước trên, những tế bào này sẽ được đưa vào thiết bị nuôi cấy để tiến hành quá trình nhân bản. Trong quá trình này, chúng ta sẽ thêm các hormone thích hợp để đẩy nhanh quá trình phân chia và tăng trưởng của tế bào.

Mọi người đừng có định kiến tiêu cực về hormone. Thực tế, cơ thể con người rất cần sự kích thích từ các hormone; ngay cả quá trình phân chia và tăng trưởng của tế bào cũng không thể thiếu hormone. Tất nhiên, lượng hormone sử dụng phải được kiểm soát ở mức hợp lý; quá ít hay quá nhiều đều có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào.

Thông qua công nghệ này, chúng ta có thể thu được một lượng lớn tế bào. Thông thường, trong vòng 24 đến 36 giờ, chúng ta đã có đủ tế bào để thực hiện quá trình in 3D. Sau đó, những tế bào này sẽ được chuyển đến máy in 3D sinh học để tiến hành in ấn.

Trong suốt quá trình in ấn, những tế bào mới được nuôi cấy liên tục được cung cấp đến máy in 3D sinh học, đảm bảo rằng các cơ quan được in ra luôn tươi mới và đầy sức sống.

Nói đến đây, Ngô Hoà hơi giảm bớt giọng điệu căng thẳng và tiếp tục nói: “Mọi người đều biết rằng tốc độ in của những

Tốc độ in như vậy quá thấp, hoàn toàn không thể sử dụng được. Cần biết rằng thời gian tối ưu để cấy ghép các cơ quan con người sau khi được lấy ra khỏi cơ thể là trong vòng 8 giờ; thậm chí một số cơ quan chỉ sau vài giờ đã bị tổn hại không thể phục hồi được.

Đây vẫn là những cơ quan đã qua xử lý trước; nếu không qua xử lý, chúng chỉ là những khối thịt chết, hoàn toàn không thể sử dụng được. Thậm chí, theo thời gian, chúng còn có thể phát sinh mùi hôi thối.

Việc in ấn các cơ quan sinh học cũng vậy; làm thế nào để các mô cơ quan được in ra có thể duy trì tính sống lâu dài cũng là vấn đề mà các chuyên gia kỹ thuật nghiên cứu khoa học của chúng ta đang suy nghĩ. Bởi vì quá trình in ấn tiêu tốn rất nhiều thời gian; nếu không thể đảm bảo rằng các mô cơ quan được in ra vẫn giữ được tính sống, thì phần được in đầu tiên sẽ bị hỏng ngay khi quá trình in chưa hoàn thành.

Vì vậy, chúng ta buộc phải nâng cao tốc độ in ấn, giúp quá trình in toàn bộ cơ quan diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Tuy nhiên, nếu tăng tốc độ in, độ chính xác của quá trình in sẽ giảm xuống theo.

Có vẻ như đây là một mâu thuẫn không thể điều chỉnh được, nhưng nếu phân tích kỹ lưỡng, thực chất đây chỉ là những yêu cầu cao hơn và khắt khe hơn đối với hiệu suất tổng thể của máy in 3D sinh học mà thôi.

“Vì vậy, trước hết, chúng ta cần phải nâng cao tốc độ in của máy in 3D sinh học trong khi vẫn đảm bảo độ chính xác và chất lượng của sản phẩm in ra. Việc tăng tốc độ in cho loại hình in ấn sinh học này rất khó khăn, bởi vì chúng ta sử dụng tế bào để in ra các mô cơ quan.”

Do đó, điều này dẫn đến nhiều hạn chế và những vấn đề bất ngờ. Ví dụ, nếu tăng tốc độ in, kim in rất dễ bị tắc nghẽn bởi các tế bào chảy vào nhanh, từ đó gây ra hỏng hóc. Ngoài ra, nếu tốc độ dòng chảy trong hệ thống cung cấp tế bào quá nhanh, cũng sẽ gây tổn hại cho các tế bào chuẩn bị được in.

Vì vậy, việc tăng tốc độ in không đơn giản chỉ là điều chỉnh tốc độ, mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác; có thể nói rằng “động một sợi tóc mà cả cơ thể đều bị ảnh hưởng”.

Thứ hai, chúng ta cần giải quyết vấn đề bảo quản tính sống của các mô cơ quan đã được in ra. Dù có tăng tốc độ đến đâu thì cũng sẽ đạt đến một giới hạn nhất định; vì vậy, vấn đề bảo quản tính sống của các mô cơ quan đã được in ra trong phòng in cũng là một vấn đề cần được giải quyết gấp rút.

Các phương pháp bảo quản cơ

Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành vô số cuộc thí nghiệm và khám phá, cuối cùng mới tìm ra giải pháp. Nhóm chuyên gia kỹ thuật của chúng tôi dự định lắp thêm một buồng in các cơ quan sinh học bên dưới máy in 3D sinh học; buồng in này có thể được coi là một phòng in cơ quan sinh học, hoặc là một môi trường nuôi dưỡng nhân tạo cho các cơ quan, hay nói cách khác, là “nhau thai” của các cơ quan đó.

Trong quá trình in, buồng in này thường được bổ sung dung dịch bảo quản đặc biệt hoặc một số loại khí trơ có tác dụng bảo vệ. Toàn bộ quá trình in đều diễn ra trong môi trường này.

Phương pháp này giúp ngăn cản hiệu quả vi khuẩn trong không khí, từ đó đảm bảo rằng các mô cơ quan được in ra nằm trong môi trường vô trùng, qua đó kéo dài đáng kể thời gian hoạt động của chúng.

Khi kết hợp sử dụng khí trơ, dung dịch bảo quản cùng với môi trường nhiệt độ thấp, thời gian hoạt động của các cơ quan được in ra sẽ được tăng lên đáng kể. Nhờ đó, ngay cả sau khi trải qua quá trình in 3D sinh học trong thời gian dài, các mô cơ quan đó vẫn có thể duy trì sức sống sinh học và ở trong tình trạng tốt nhất để được cấy ghép.

Tất nhiên, hiện nay công nghệ in 3D sinh học này vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, và vẫn còn nhiều vấn đề kỹ thuật chưa được giải quyết. Vì vậy, khả năng ứng dụng của nó vẫn còn rất hạn chế.

Hôm nay, điều chúng tôi muốn trình bày với mọi người không chỉ là công nghệ in 3D sinh học này, cũng như máy in 3D sinh học tương ứng và thiết bị nuôi cấy tế bào, mà còn bao gồm những thành tựu mà chúng tôi đã đạt được nhờ vào công nghệ này. Các bạn còn nhớ đoạn video ngắn mà chúng ta đã xem trước đây không?

Ngô Hoà mỉm cười và đặt ra câu hỏi này. Nghe thấy lời Ngô Hoà, những người đang xem trực tiếp lập tức nhớ lại nội dung trong đoạn video và phần giới thiệu ban đầu của anh ấy.

Ngô Hoà dừng lại một chút rồi tiếp tục nói với nụ cười: “Đúng vậy, nhờ vào công nghệ in 3D sinh học này, chúng tôi đã thành công trong việc in ra mô da nhân tạo!”

1/1 0%