lore

Chương 3092: Nông nghiệp và khủng hoảng lương thực

7,012 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Hiện nay, sự phát triển của ngành nông nghiệp đã gặp phải tình trạng trì trệ, không chỉ ở lĩnh vực giống cây trồng mà còn ở phân bón hóa học và thuốc trừ sâu; về cơ bản, tất cả đều đã đến giai đoạn bế tắc.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, hiện nay các nghiên cứu chúng ta thực hiện đều gặp phải trở ngại; hiệu quả của phân bón hóa học đã được khai thác tối đa, và việc phát triển những công thức phân bón mới có thể làm tăng sản lượng cây trồng một cách đáng kể đang trở nên rất khó khăn.

Trong lĩnh vực nghiên cứu về phân bón hóa học, các nỗ lực hiện nay chủ yếu tập trung vào việc nâng cao tỷ lệ sử dụng phân bón, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng sản lượng cây trồng.

Tư duy của toàn bộ ngành nghề, cũng như của xã hội, cũng đã thay đổi; mọi người bắt đầu theo đuổi phát triển bền vững và bảo vệ môi trường xanh. Ví dụ, loại phân bón hữu cơ sinh học – loại phân bón truyền thống – lại một lần nữa trở nên được quan tâm nhiều hơn.

Còn về lĩnh vực thuốc trừ sâu, sự phát triển hiện nay không thể nói là trì trệ, nhưng quả thật rất chậm. Bởi vì mọi người coi trọng an toàn thực phẩm, nên việc sử dụng thuốc trừ sâu trên các sản phẩm nông nghiệp cũng ngày càng được thận trọng hơn. Ngày càng nhiều sản phẩm nông nghiệp được quảng bá là “sạch sinh thái”, không chứa thuốc trừ sâu; điều này cũng khiến một số nông dân không muốn sử dụng thuốc trừ sâu nữa.

Tất nhiên, thuốc trừ sâu vẫn là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, bởi chúng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sâu bệnh. Tuy nhiên, ngày nay thuốc trừ sâu đã thay đổi từ mục tiêu ban đầu là tiêu diệt sâu bệnh thành những loại có độc tính thấp, ít dư lượng, không gây ô nhiễm và có thể phân hủy được.

Thậm chí, hiện nay đã có những loại thuốc trừ sâu sinh học hoàn toàn không gây ô nhiễm được phát triển, nhưng chúng vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.

Về giống cây trồng, trong vài thập kỷ qua, công nghệ giống cây trồng đã có những bước tiến vượt bậc; từ phương pháp chọn lọc giống thông thường, chúng ta đã chuyển sang sử dụng các dung dịch đặc biệt để ngâm giống nhằm tăng tỷ lệ nảy mầm và nâng cao khả năng chống sâu bệnh của giống cây.

Tiếp theo là công nghệ lai tạo; có thể nói, công nghệ này đã xuất hiện từ rất lâu trước đây, khi tổ tiên chúng ta đã biết cách lai tạo các giống cây khác nhau để tạo ra những giống cây trồng tốt hơn.

Ngày nay, công nghệ lai tạo càng trở nên tiên tiến hơn; với sự ứng dụng của những công nghệ

Ví dụ, chúng ta có thể đánh dấu các gen quan trọng liên quan đến khả năng kháng bệnh, kháng sâu, chịu hạn hán, v.v. Hoặc sử dụng cơ quan tổ chức hoặc tế bào để tiến hành nuôi cấy trong môi trường nhân tạo, từ đó thu được các giống cây sinh sản vô tính hoặc giống cây lưỡng bội, và từ đó tuyển chọn ra các giống cây đơn bội hoặc lưỡng bội có các đặc tính tốt.

Ngoài ra, còn có kỹ thuật lai tạo giống cây đơn bội – thông qua các phương pháp như gây ra tình trạng đơn bội hoặc làm tăng số lượng nhiễm sắc thể, chúng ta có thể thu được các giống cây đồng hợp tử có các đặc tính tốt. Quy trình kỹ thuật này bao gồm các bước như gây ra tình trạng đơn bội, xác định đặc tính của giống cây đơn bội và làm tăng số lượng nhiễm sắc thể.

Một kỹ thuật khác gây nhiều tranh cãi là kỹ thuật biến đổi gen. Với kỹ thuật này, chúng ta có thể đưa vào các gen mang lại các đặc tính tốt như kháng sâu, kháng bệnh, chịu hạn hán, chịu lạnh, kháng thuốc diệt cỏ, v.v., giúp cây trồng thích nghi tốt hơn với môi trường, từ đó tăng năng suất và chất lượng. Ví dụ, cây canola biến đổi gen có thể giảm thiểu sự tấn công của sâu bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng hạt canola.

Chúng ta cũng có thể sử dụng kỹ thuật biến đổi gen để tạo ra các giống cây trồng mới có khả năng sinh sản nhanh và cho năng suất cao. Những giống cây này có thể được nhân giống và sản xuất nhanh hơn, do đó giảm lượng hạt giống cần sử dụng và nhu cầu về lao động nông nghiệp, từ đó giảm chi phí sản xuất nông nghiệp.

Thậm chí, chúng ta còn có thể sử dụng kỹ thuật biến đổi gen để phát triển các loại nông sản có các đặc tính mới, như những sản phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị gia tăng cao, từ đó tăng thêm giá trị cho nông sản. Ví dụ, thông qua kỹ thuật biến đổi gen, chúng ta có thể tăng hàm lượng protein, chất béo và các thành phần dinh dưỡng khác trong thực vật, cung cấp cho con người những thực phẩm chất lượng cao hơn.

Cuối cùng, việc sử dụng hợp lý kỹ thuật biến đổi gen cũng có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện sinh thái nông nghiệp.

Tuy nhiên, mặc dù kỹ thuật biến đổi gen đã được phát triển trong nhiều thập kỷ, nhưng có vẻ như ngoại trừ chúng ta, sự phát triển của kỹ thuật này trong những năm gần đây đã gặp phải nhiều trở ngại.

Có lẽ nguyên nhân là do người dân và xã hội nói chung vẫn còn nhiều hiểu lầm về kỹ thuật biến đổi gen và các loại cây trồng biến đổi gen, khiến cho kỹ thuật này không thể được áp dụng rộng rãi.

Nói đến đây, Ngô Hoà dừng lại một chút, rồi vẫy tay cười nói với mọi người:

Ngoài ra, còn có một vấn đề mà người dân rất lo ngại, đó là việc sử dụng công nghệ biến đổi gen có thể gây ra ô nhiễm gen. Ví dụ, khi ngô biến đổi gen được trồng lẫn với ngô không biến đổi gen, có thể tạo ra những thế hệ mới có các đặc tính không ổn định. Điều này không chỉ làm mất đi tính ổn định của ngô không biến đổi gen mà còn có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái.

Hơn nữa, điều này cũng đặt ra một số vấn đề về đạo đức, chẳng hạn như liệu việc này có phù hợp với quy luật tự nhiên hay không, liệu nó có gây hại cho môi trường sinh thái hay không, v.v.

Tương tự như vậy, những ưu và nhược điểm của công nghệ chỉnh sửa gen và công nghệ biến đổi gen cũng khá giống nhau, và chúng đều đối mặt với những vấn đề tương tự như công nghệ biến đổi gen.

Nói đến đây, Ngô Hoà nói với giọng nặng nề hơn: “Nhưng theo tôi, công nghệ biến đổi gen và công nghệ chỉnh sửa gen chính là chìa khóa để mở ra tương lai của nông nghiệp, là hướng phát triển của nông nghiệp trong tương lai.

Khi quy mô dân số thế giới liên tục tăng lên, nhu cầu về lương thực cũng ngày càng gia tăng.

Theo dữ liệu của Liên Hợp Quốc, dự kiến vào giữa thế kỷ này, khoảng năm 2059, dân số toàn thế giới sẽ vượt qua mốc 10 tỷ người.

Với quy mô dân số lớn như vậy, nhu cầu về thực phẩm chắc chắn sẽ là vô cùng lớn và chưa từng có tiền lệ. Vấn đề là ai sẽ nuôi sống 10 tỷ người này cũng là một thách thức mà toàn thế giới đang phải đối mặt.

Khi dân số tiếp tục tăng lên, quy mô các thành phố mở rộng, cùng với sự lan rộng của đất đai bị sa mạc hóa hoặc nhiễm mặn, lượng đất canh tác có sẵn trên toàn thế giới cũng ngày càng ít đi.

Ngay cả hiện nay, vẫn còn gần 1 tỷ người trên thế giới đang phải sống trong tình trạng đói nghèo. Hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra hàng loạt thiên tai tự nhiên, cùng với tình hình bất ổn ở một số khu vực, khiến cho số lượng người bị ảnh hưởng và số người đói nghèo cũng ngày càng tăng.

Nếu tình hình hiện tại đã như vậy, thì đến khi dân số đạt mốc 10 tỷ người vào giữa thế kỷ này, không biết sẽ còn bao nhiêu người phải đối mặt với tình trạng đói nghèo nữa.”

1/1 0%