lore

Chương 1198: Mắt nhân tạo?

7,048 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Mắt nhân tạo?

Các vị khách mời và phóng viên truyền thông dưới sân khấu bỗng nhiên trở nên hứng thú. Không chỉ vậy, các buổi phát sóng trực tiếp trên các nền tảng cũng trở nên sôi động hẳn lên.

Đúng vậy, đó chính là mắt nhân tạo. Ngô Hoà Đôn nhắc lại: “Liệu chúng ta có thể chế tạo ra loại mắt nhân tạo này để giúp đỡ hoặc thay thế cho đôi mắt tự nhiên của con người, giúp những người mù lấy lại ánh sáng không?”

Nói đến đây, Ngô Hoà Đôn dừng lại một chút rồi tiếp tục: “Thực tế, mọi thứ hoàn toàn khác với những gì mọi người tưởng tượng. Mắt nhân tạo không hề phức tạp. Nói cách khác, chúng ta đã có thể thực hiện được điều này rồi – bởi vì mắt nhân tạo chính là những chiếc máy quay, camera mà chúng ta đang sử dụng mỗi ngày mà thôi.”

“Đôi mắt con người cũng giống như những thiết bị chụp ảnh này mà.”

Ngay khi anh ấy nói xong, tiếng ồn ào dưới sân khấu càng lớn hơn; hầu như mọi người đều bắt đầu thảo luận sôi nổi.

Ngô Hoà Đôn nhìn thấy vậy, liền mỉm cười rồi nói: “Đúng vậy, điều này không hề mới mẻ hay phức tạp chút nào.”

Thực sự, điều phức tạp không nằm ở bản thân chiếc mắt nhân tạo, mà là cách nó truyền tải hình ảnh vào não bộ của chúng ta.

Đó chính là hệ thống thị giác nhân tạo mà giới y khoa đang nghiên cứu, nhằm giúp những người mù lấy lại thị lực.

Thực tế, đối với những bệnh nhân mù do các nguyên nhân khác nhau, phương pháp điều trị cũng sẽ khác nhau. Ví dụ, những bệnh nhân mù do đục thủy tinh thể có thể được phẫu thuật cắt bỏ đục thủy tinh thể và thay thế bằng thấu kính nhân tạo, từ đó lấy lại ánh sáng.

Đối với những bệnh nhân mù do mất giác mạc hoặc các bệnh lý về giác mạc, nếu có giác mạc phù hợp từ người hiến tặng, họ cũng có thể lấy lại thị lực.

Ngoài ra, còn có công nghệ mống mắt nhân tạo, có thể được sử dụng để điều trị các bệnh lý gây mất mống mắt, giúp những bệnh nhân này lấy lại ánh sáng.

Tuy nhiên, tất cả những trường hợp này đều dựa trên một điều kiện cơ bản: đó là hệ thống truyền dẫn thị giác và trung tâm thị giác của bệnh nhân không bị tổn thương chức năng.

Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể chia đôi mắt thành hai phần chính: phần bề mặt và phần trong lòng mắt. Các bệnh lý ở phần bề mặt mắt có thể được điều trị bằng phẫu thuật và có khả năng cao giúp bệnh nhân lấy lại thị lực.

Nhưng một khi phần trong lòng mắt gặp vấn đề, thì bệnh nhân mù thường sẽ mất hẳn thị lực và mãi mãi sống trong bóng tối.

V

Tất nhiên, còn có những bệnh nhân bị tổn thương nghiêm trọng ở mắt; tình trạng của họ là không thể đảo ngược được.

Còn một loại công nghệ thị giác nhân tạo khác thì được gọi là “công nghệ kích thích điện trung tâm thị giác”. Nói một cách đơn giản, đó là việc sử dụng các nhóm điện cực siêu nhỏ để kích thích dây thần kinh thị giác thông qua những hình ảnh số mà mắt nhân tạo thu nhận được. Khi các tín hiệu thần kinh này đến não, bệnh nhân sẽ có thể “nhìn” thấy các hình ảnh trở lại.

Hiện nay, công nghệ kích thích điện trung tâm thị giác này đã bắt đầu được áp dụng trong một số thử nghiệm lâm sàng, và nó đã giúp một số bệnh nhân mù hoàn toàn có thể nhìn thấy những đường nét mờ ảo của các hình ảnh. Với sự phát triển của công nghệ, những đường nét này sẽ ngày càng rõ ràng hơn.

Nói đến đây, Ngô Hoà điều chỉnh giọng nói và tiếp tục: “Công nghệ mà chúng tôi muốn giới thiệu với mọi người hôm nay thì thực ra rất giống với công nghệ kích thích điện trung tâm thị giác này, nhưng cũng có những điểm khác biệt lớn.”

Mọi người đều biết rằng, chúng tôi đã có những nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực công nghệ kiểm soát tín hiệu điện sinh học thần kinh và công nghệ điều khiển bằng ý nghĩ. Một loại công nghệ trong số này sử dụng các tín hiệu điện sinh học do não sản xuất và được truyền đi bởi dây thần kinh vận động để thu nhận và nhận diện, từ đó điều khiển các thiết bị liên quan. Còn loại công nghệ điều khiển bằng ý nghĩ khác thì sử dụng sóng não để thu nhận và nhận diện, từ đó điều khiển các thiết bị tương ứng.

Cả hai loại công nghệ này đều dựa trên việc thu nhận những suy nghĩ và lệnh của não để điều khiển các thiết bị bên ngoài. Vậy liệu có thể tồn tại một công nghệ nào giúp não chúng ta cảm nhận được môi trường xung quanh, hay nói cách khác, chúng ta có thể phát triển một hệ thống cảm giác nhân tạo không?

Vì vậy, chúng tôi đã tập trung vào những tín hiệu điện sinh học mà dây thần kinh truyền đi. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mô phỏng những tín hiệu thần kinh thị giác đó và truyền chúng một cách chính xác, hoàn chỉnh đến trung tâm thị giác của vỏ não, từ đó tạo ra khả năng nhìn thấy.

Sau khi xác định được mục tiêu, chúng tôi ngay lập tức bắt đầu các nghiên cứu khoa học liên quan. Toàn bộ quá trình này gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại. Mặc dù trước đây đã có những ý tưởng và lý thuyết nghiên cứu tương ứng, nhưng chúng hầu như không mang lại tác động gì đối với dự án của chúng tôi, vì vậy chúng tôi buộc phải bắt đầu lại từ đầu.

Đầu tiên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về lý thuyết

Thứ hai, chúng ta cũng cần tuyển mộ các chuyên gia và nhân tài kỹ thuật trong lĩnh vực liên quan để tiến hành nghiên cứu khoa học cần thiết.

Hơn nữa, chúng tôi dự định đưa dự án này vào kế hoạch 5 năm hoặc thậm chí là 10 năm của công ty, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến lâu dài.

Về dự án này, không ai có thể biết chắc khi nào nó mới đạt được kết quả.”

Nói đến đây, Ngô Hoà điều chỉnh lại hơi thở, nhìn quanh mọi người rồi tiếp tục nói:

“Thực tế, rào cản lớn nhất đối với toàn bộ nhóm nghiên cứu và phát triển này không phải là vấn đề liên quan đến bản thân dự án, mà là làm thế nào để đảm bảo an toàn trong quá trình thử nghiệm.

Mọi người đều biết rằng, khác với các công nghệ kiểm soát ý nghĩ hay tín hiệu điện sinh của dây thần kinh vận động, dự án “mắt nhân tạo” này lại yêu cầu việc đưa thông tin từ bên ngoài vào não bộ – điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Chúng ta phải đảm bảo rằng các thử nghiệm được thực hiện một cách an toàn tuyệt đối trước khi tiến hành trên những tình nguyện viên của chúng ta.

Liệu công nghệ này có thực sự an toàn không? Nó có gây tổn hại gì cho não bộ không? Việc đeo nó trong thời gian dài có mang lại những tác động tiêu cực nào không… Về những vấn đề này, chúng ta hiện chưa có căn cứ để đánh giá.

Vì vậy, chúng ta phải bắt đầu từ con đường mới, tiến hành các thử nghiệm trên động vật trước, như chuột bạch, thỏ, heo, khỉ… Bằng cách quan sát kết quả của những thử nghiệm này trên động vật, chúng ta có thể đánh giá mức độ an toàn của thiết bị và quy trình thử nghiệm.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi vẫn đã đạt được những kết quả bất ngờ trong nghiên cứu này.

Tiếp theo, tôi sẽ trình bày với mọi người những kết quả nghiên cứu của chúng tôi, bao gồm cả những thử nghiệm trên động vật.

Trước hết, tôi muốn làm rõ một điều: tất cả các thử nghiệm của chúng tôi đều được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt, và tất cả các con vật được sử dụng trong thử nghiệm đều đến từ những nguồn hợp pháp.

Việc sử dụng động vật để thử nghiệm có vẻ như khá tàn nhẫn và thiếu nhân đạo, nhưng đây lại là phương pháp phổ biến được sử dụng trong ngành y tế trên toàn thế giới, và nó đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ y dược hiện nay.”

1/1 0%