lore

Chương 2911: Hố”.

7,268 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Những ai học theo tôi sẽ sống sót; những ai bắt chước tôi thì sẽ thất bại.”

Ngô Hoà nói điều này không phải là không có cơ sở. Thực tế, kể từ khi họ bắt đầu phát triển, một làn sóng khởi nghiệp trẻ tuổi đã bùng nổ. Rất nhiều sinh viên, cả những người đang theo học lẫn những người vừa tốt nghiệp, đều bắt đầu học hỏi cách họ khởi nghiệp – với đủ mọi loại hình khác nhau. Các trường học và xã hội cũng nhận thấy tiềm năng ở lĩnh vực này và đã tăng cường hỗ trợ, mong muốn nuôi dưỡng ra thêm “Ngô Hoà thứ hai”.

Tuy nhiên, cuối cùng, chỉ có rất ít nhóm khởi nghiệp thực sự tồn tại được, và những nhóm có thể phát triển thành công thì còn hiếm hơn nữa. Nói một cách thẳng thắn, Ngô Hoà và nhóm của anh ấy thật sự đặc biệt – điều này khiến những người học theo họ gần như không thể bắt chước được. Đầu tiên là về mặt năng lực kỹ thuật; điểm này, dù họ có cố gắng đến đâu, cũng không thể bắt chước được.

Tất nhiên, cũng có rất nhiều nhóm khởi nghiệp và doanh nhân đã sáng tạo ra những công nghệ tốt, nhưng bao nhiêu trong số đó thực sự có thể được áp dụng vào thực tế và mang lại giá trị cho thị trường? Có lẽ rất ít. Hầu hết những doanh nhân này đều còn là sinh viên, vì vậy họ thực sự không hiểu rõ về thị trường; họ chỉ dựa vào kiến thức kỹ thuật và lý thuyết mà thôi, và một số trong những công nghệ đó hoàn toàn không thể được áp dụng trong thực tế.

Có những công nghệ có vẻ tiên tiến, nhưng chi phí sản xuất quá cao, nên không thích hợp để sử dụng trong thương mại. Ví dụ, việc gọt khoai tây trước đây chỉ cần một cái dụng cụ gọt vỏ là đủ; chúng ta chỉ cần trả lương cho một người, khoảng 100 nhân dân tệ mỗi ngày, tức là hơn 3.000 nhân dân tệ mỗi tháng. Còn những chiếc máy gọt khoai tây bán tự động nhỏ thì giá cũng chỉ vài nghìn nhân dân tệ mà thôi. Nhưng nếu bạn phát minh ra một chiếc máy gọt khoai tây tự động hoàn toàn mới, chỉ cần đổ khoai tây vào máy là xong; máy sẽ tự động gọt vỏ, rửa sạch, và có thể cắt khoai tây theo yêu cầu của bạn (thái lát, thái sợi, thái hạt lựu, nghiền nhuyễn, v.v.). Một chiếc máy như vậy chắc chắn sẽ rất hữu ích, nhưng giá của nó có thể lên đến vài chục nghìn nhân dân tệ… Liệu có ai sẵn lòng mua một chiếc máy như vậy không? Trừ những doanh nghiệp lớn, nhiều xưởng nhỏ thực sự không đủ khả năng chi trả cho những thiết bị như vậy; họ cũng không muốn đầu tư nhiều vốn vào những thiết bị này. Theo họ, việc thuê thêm vài người lao động s

Tất cả những người này đều là sinh viên đại học, và rất nhiều trong số họ không có kinh nghiệm thực tiễn xã hội. Nói một cách thẳng thắn, họ hoàn toàn không hiểu rõ quy trình vận hành kinh doanh, cũng không thể làm rõ được những vấn đề phức tạp tồn tại trong xã hội, thị trường hay ngành nghề.

Ngoài ra, những người này mới bước vào xã hội hoặc chưa thực sự tham gia vào đời sống xã hội, vì vậy họ không có mối quan hệ nào để giúp họ đứng vững trong xã hội, ngành nghề hay thị trường này.

Một số sinh viên có thể dựa vào mối quan hệ của cha mẹ hay người thân để giải quyết vấn đề này, nhưng đa số các sinh viên khác đều phải tự mình vượt qua khó khăn – đó chính là thực tế.

Do thiếu kinh nghiệm, họ không thể đánh giá chính xác tình hình thị trường hay ngành nghề, nên rất dễ đưa ra những quyết định sai lầm. Trong cuộc cạnh tranh trên thị trường, một khi mắc phải sai lầm, thiệt hại sẽ rất lớn.

Những người khởi nghiệp này thường không có nền tảng kinh tế vững chắc, vốn điều kiện họ có rất hạn chế, nên không thể chịu đựng nổi những thiệt hại lớn như vậy. Chỉ cần mất đi vài chục nghìn đến vài trăm nghìn đồng, họ đã không thể tiếp tục và buộc phải từ bỏ ý định khởi nghiệp.

Không chỉ là vấn đề về thiệt hại, mà nhiều dự án khởi nghiệp còn rất cần sự hỗ trợ về tài chính. Ngay cả việc khởi nghiệp hiện nay cũng tốn kém rất nhiều; chi phí cho các thiết bị văn phòng như máy tính, máy in, bàn ghế, cùng với các thiết bị nghiên cứu khoa học khác… Dù tiết kiệm đến đâu, cũng cần ít nhất vài chục nghìn đồng mới có thể bắt đầu triển khai dự án một cách hiệu quả.

Đối với các sinh viên như Zexiang, việc tự bỏ tiền ra để thực hiện dự án là điều rất khó khăn; thông thường, họ phải nhờ sự hỗ trợ từ gia đình hoặc cố gắng vay tiền. Tuy nhiên, số tiền họ có được vẫn rất hạn chế.

Trong những trường hợp này, các trường đại học, chính quyền địa phương và nhà nước thường có những chính sách hỗ trợ như trợ cấp hoặc vay vốn không lãi, nhưng những biện pháp này lại chỉ mang lại hiệu quả rất hạn chế đối với các dự án khởi nghiệp.

Hơn nữa, đối với những sinh viên mới bắt đầu sự nghiệp, việc phải gánh vác một khoản nợ lớn ngay từ đầu đã là một áp lực lớn. Đối với đa số sinh viên tốt nghiệp, mức lương của công việc đầu tiên họ nhận được chắc chắn không cao; số lượng sinh viên tốt nghiệp có mức lương cao vẫn còn rất ít. Nếu phải gánh vác một khoản nợ lớn và phải trả lãi khi trễ hạn, điều này sẽ là một gánh nặng quá lớn đối với họ. Nếu thua lỗ, điều đó có ngh

Rất nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân không đáng tin cậy thường nhắm vào những sinh viên khởi nghiệp này, tìm mọi cách để lừa đảo họ lấy tiền bạc. Những sinh viên này thiếu kinh nghiệm và có tâm hồn trong sáng, nên rất dễ tin lời người khác. Vì vậy, nếu không cẩn thận, họ có thể rơi vào bẫy của kẻ xấu, và khi nhận ra điều đó thì đã quá muộn.

Hơn nữa, những doanh nghiệp và cá nhân này, để tránh bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, thường cố gắng tránh né các vấn đề liên quan đến pháp luật và xử lý chúng như những tranh chấp kinh tế thông thường.

Như vậy, các cơ quan thực thi pháp luật sẽ rất khó can thiệp. Nếu việc kiện tụng thông qua con đường pháp lý, những sinh viên này không đủ khả năng tài chính để tiếp tục cuộc chiến pháp lý, cũng như không thể chịu đựng được thời gian kéo dài của quá trình này. Chỉ cần thuê một luật sư thôi cũng đã tốn hàng nghìn đồng, và những vụ án như vậy thường mất rất nhiều thời gian, nên cuối cùng, những sinh viên này cũng không thể chịu đựng nổi và quyết định từ bỏ.

Hơn nữa, vì những doanh nghiệp và cá nhân này đã chuẩn bị kỹ lưỡng và có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nên việc những sinh viên thiếu kinh nghiệm đối đầu với họ gần như là không có cơ hội thắng. Chỉ riêng việc kéo dài thời gian thôi cũng đủ để khiến hầu hết các sinh viên này phải chịu đựng; còn những trường hợp còn lại thì có thể được giải quyết bằng cách sử dụng cả biện pháp mềm lẫn cứng rắn. Phần còn lại, số ít ấy, có thể được giải quyết bằng cách chia rẽ phe đối lập và từ từ giải quyết từng trường hợp một.

Vì vậy, những sinh viên này, sau khi bị lừa đảo, chỉ có thể nuốt nước mắt mà chịu đựng, và cuối cùng cũng phải chịu thiệt thòi mà không thể nói ra được.

Những trường hợp như vậy rất nhiều, xảy ra hàng năm, đặc biệt là sau khi Ngô Hoà và nhóm bạn của anh ấy khơi mào làn sóng này, những trường hợp tương tự càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Mặc dù các cơ quan chức năng đã đưa ra nhiều biện pháp để kiểm soát tình hình, nhưng thực sự rất khó để loại bỏ hoàn toàn vấn đề này.

Một ví dụ đơn giản nhất là những “bẫy” trong hợp đồng – làm thế nào để kiểm soát chúng? Những sinh viên thiếu kinh nghiệm có thể dễ dàng ký vào những hợp đồng mà chỉ được lừa dối bằng vài câu nói. Những hợp đồng này có vẻ bình thường, nhưng thực chất chứa đầy bẫy; một từ, một chữ, thậm chí một dấu chấm câu khác nhau cũng có thể khiến ý nghĩa của hợp đồng thay đổi hoàn toàn. Trừ những người chuyên nghiệp trong lĩnh vực

1/1 0%