lore

Chương 4344: Robot “Người Đi Trên Cát

7,305 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Uông Lương Công vuốt râu, chỉ vào lỗ tản nhiệt ở góc màn hình và nói: “Nhiệt độ bề mặt sa mạc vào lúc trưa có thể lên tới 70°C, các linh kiện điện tử có chịu đựng được không? Tôi thấy các bạn chỉ sử dụng hệ thống tản nhiệt thụ động, không lắp quạt thông gió à?”

“Đó là thiết kế kết hợp cả hệ thống tản nhiệt chủ động và thụ động,” một kỹ sư phần cứng trong nhóm trả lời, cầm lên một mẫu máy và giải thích: “Vỏ ngoài được làm từ gốm silicon carbide do chúng tôi nghiên cứu và phát triển; hệ số dẫn nhiệt của nó cao gấp hai lần so với hợp kim nhôm. Ngoài ra, còn có lớp lưu trữ nhiệt dựa trên nguyên lý biến pha, giống như những gai lưng lạc đà; parafin bên trong sẽ tan chảy và hấp thụ nhiệt ở nhiệt độ 55°C, sau đó đông lại và giải phóng nhiệt vào ban đêm, giúp duy trì nhiệt độ của các bộ phận chính trong khoảng từ -20°C đến 50°C.”

“Không lắp quạt thông gió là để chống bụi cát; tất cả các đầu nối đều được niêm phong ở ba lớp. Trong cuộc thử nghiệm bão cát năm ngoái, lượng bụi cát bên trong robot còn chưa đầy 0,3 gam.”

Giáo sư Chu đột nhiên hỏi: “Algoritma này được phát triển độc lập à? Hệ thống lập kế hoạch đường đi có thể tránh được các khu vực có cát lăn không?”

“Đúng vậy, algoritma ‘Nhận dạng vân cát’ hoàn toàn được phát triển bởi chúng tôi!” Lâm Khê hiển thị một bản đồ vệ tinh trên màn hình, trên đó có những đường màu xanh biểu thị các lộ trình an toàn, và tiếp tục giải thích: “Chúng tôi đã thu thập dữ liệu địa hình sa mạc của năm tỉnh phía tây bắc, sau đó huấn luyện mô hình để nhận dạng các đặc điểm vân cát ở những khu vực có cát lăn. Những đường vân hình sóng đó thực chất ẩn chứa những tín hiệu nguy hiểm; algoritma có thể xác định được trong vòng 0,3 giây những khu vực nào không đủ khả năng chịu lực, và tự động lập kế hoạch đường đi đi qua chúng.”

“Tháng trước, khi thử nghiệm tại sa mạc Kubuqi, nó đã thành công trong việc tránh qua ba cái hố cát lăn ẩn náu; trước đây, việc này chỉ có thể thực hiện được nhờ vào kinh nghiệm của các nhân viên tuần tra sa mạc.” Phó tổng giám đốc Trương lật lại tài liệu dự án và hỏi: “Nếu sử dụng cho mục đích phòng thủ biên giới, khả năng chống nhiễu sẽ như thế nào? Khi gặp phải môi trường điện từ mạnh, việc giao tiếp và định vị có bị ảnh hưởng không?”

Lâm Khê ngay lập tức trình bày báo cáo thử nghiệm chống nhiễu: “Chúng tôi đã phối hợp với nhóm dự án pháo điện từ để tăng cường khả năng chống nhiễu; mô-đun giao tiếp sử dụng công nghệ ghép sóng, có thể chuyển sang băng

Nhưng chúng tôi đang tối ưu hóa các giải pháp; ví dụ, thay những ổ bi chính xác trên cánh tay máy bằng ổ bi gốm sản xuất trong nước, chi phí có thể giảm đi 15%.

Các mô hình công nghiệp được sản xuất hàng loạt sẽ tiết kiệm thêm 8% chi phí nữa. Nếu sản xuất 100 chiếc mỗi năm, tổng chi phí có thể giảm xuống dưới 80.000 đồng, tức là thấp hơn 60% so với chi phí kiểm tra thủ công hàng năm.”

Giáo sư Chu vỗ nhẹ vào mép bàn và nói: “Thật hiếm khi thấy những người trẻ tuổi lại có ý tưởng sáng tạo và đồng thời am hiểu thực tế. Tôi có một đề xuất: do sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa ban ngày và ban đêm ở sa mạc, hiệu suất sạc/xả của pin sẽ bị ảnh hưởng. Liệu trong thuật toán quản lý năng lượng của các bạn có thể thêm một ‘mô hình dự báo nhiệt độ’ không? Ví dụ, dựa trên dữ liệu thời tiết để điều chỉnh chiến lược sạc/xả trước, tăng cường khả năng giữ nhiệt cho pin vào ban đêm mùa đông lên 10%, và giảm lại vào buổi trưa mùa hè – có thể giúp tăng thời gian hoạt động của robot thêm 2 giờ đấy.”

Phó tổng giám đốc Trương gật đầu đồng tình: “Tôi muốn bổ sung thêm rằng, trong quá trình tuần tra biên giới, robot có thể cần phải mang theo các thiết bị bổ sung tạm thời, như các trạm trung chuyển dữ liệu bằng drone cỡ nhỏ. Thiết kế mô-đun hóa của các bạn có thể linh hoạt hơn không? Chẳng hạn, nên để lại một giao diện tiêu chuẩn ở phía sau, để có thể thay thế thiết bị một cách nhanh chóng; như vậy sẽ giúp robot thích nghi được với nhiều tình huống khác nhau hơn.”

Uông Lương Công xem qua danh sách vật liệu trong tay và nói: “Mặc dù ổ bi gốm có giá rẻ hơn, nhưng khả năng chịu mài mòn trong môi trường cát bụi khắc nghiệt vẫn cần được kiểm tra thêm. Đơn vị chúng tôi có một phòng thí nghiệm nghiên cứu về lý thuyết ma sát; chúng tôi có thể hợp tác thực hiện một số thử nghiệm gia tốc lão hóa để cung cấp dữ liệu hỗ trợ cho các bạn.”

Lâm Khê vội vàng ghi chép lại những gì các vị lãnh đạo đề xuất, và khi ngẩng đầu lên, ánh mắt cô sáng lên: “Cảm ơn tất cả các vị vì những góp ý quý báu! Những điểm này chúng tôi thực sự chưa xem xét kỹ lưỡng; chúng tôi sẽ ngay lập tức điều chỉnh kế hoạch. Thực ra, chúng tôi còn một ý tưởng nữa: nếu có thể kết hợp robot với hệ thống lưới điện thông minh, biến chúng thành những ‘nút truyền năng lượng’ di động, để truyền điện giữa các trạm quang điện và trạm lưu trữ năng lượng, có lẽ sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng trong việc cung cấp điện.”

“Ý tưởng này rất hay!” Ngô Hoà cười nói và bổ sung

“Con robot ‘Người Di chuyển Trên Cát’ này không chỉ là một robot thông thường; nó thực sự kết hợp được công nghệ quang điện, lưu trữ năng lượng và trí tuệ nhân tạo thành một thể thống nhất. Khả năng tích hợp như vậy mới chính là điều thực sự đáng giá.”

Khi bước ra khỏi phòng họp, ánh nắng chiều muộn xuyên qua tấm kính cách nhiệt quang điện, tạo nên những vệt sáng nhỏ rải rác trên nền nhà trong hành lang.

Nhóm người tham gia cuộc kiểm tra bước đi chậm lại, ánh mắt họ lướt qua những ghi chú nghiên cứu của các bạn trẻ trên tường, những mẫu vật được in 3D, cũng như bức ảnh ghi dòng chữ “Lần thử nghiệm thứ 73 đã thất bại”. Có vẻ như không khí trong không gian ấy vẫn còn vang vọng âm hưởng nồng nhiệt từ cuộc thảo luận vừa rồi.

Giáo sư Chu dừng bước lại, ngón tay anh nhẹ nhàng vuốt qua “Trục thời gian đổi mới” được treo trong hành lang. Trên đó ghi danh 37 dự án mà phòng thí nghiệm này đã triển khai trong ba năm qua – từ loại lớp phủ dùng để làm sạch tấm pin quang điện ban đầu, cho đến con robot “Người Di chuyển Trên Cát” hiện tại. Bên cạnh mỗi dự án đều có bức ảnh chung của các thành viên nhóm; trên những bức ảnh đó, nụ cười của các bạn trẻ càng lúc càng rạng rỡ hơn.

“Các bạn không chỉ đang làm việc trong phòng thí nghiệm mà thực sự đang gieo trồng một ‘khu rừng đổi mới’ đấy.”

Anh quay người lại, ánh mắt dừng lại trên Ngô Hoà và nói với giọng đầy ngưỡng mộ: “Hãy cung cấp đất đai (cơ chế), ánh nắng mặt trời (nguồn lực) và không gian (khả năng chịu sai số) để những hạt giống tự mình mọc rễ và nảy mầm.”

“Những đứa trẻ vừa rồi, khi nói về công nghệ, ánh mắt chúng rực sáng; khi nói về ứng dụng thực tế, chúng biết rõ mình cần làm gì. Đó chính là thành quả tốt nhất.”

Phó Tổng giám đốc Trương theo dõi trục thời gian và nhìn thấy trường hợp liên quan đến “vật liệu làm mát lều biên phòng”. Bức ảnh chung của sinh viên thực tập và binh sĩ trạm gác đã bị ánh nắng làm phai màu; bên cạnh có ghi chú “Đã được áp dụng tại 23 trạm gác trên cao nguyên”.

“Tôi đã phục vụ trong quân đội hơn nửa đời, và tôi hiểu rõ ý nghĩa của hai từ ‘hữu ích’.” Anh tiếp tục nói: “Không phải là những con số đẹp đẽ trong phòng thí nghiệm, mà là những thứ thực sự có ích, giúp binh sĩ tránh khỏi cái lạnh và sự mệt mỏi.”

“Phòng thí nghiệm của các bạn không hề làm những việc hình thức; mọi nỗ lực đều nhằm vào việc giải quyết vấn đề thực tế. Loại hình đổi mới này thực sự quý giá hơn hàng tá bằng sáng chế.”

Uông Lương Công lật cuốn sổ dự án trong tay

1/1 0%