lore

Chương 3047: Kornea sinh học nhân tạo

6,967 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

……“Nhưng hiện nay, công nghệ này đang gặp phải những rào cản và chưa thể tìm ra giải pháp để vượt qua chúng. Có hai vấn đề chính cần được giải quyết: một là phản ứng từ chối của mô mắt đối với các loại vật liệu nhân tạo này.

Nói một cách đơn giản, đây chính là phản ứng tự nhiên của cơ thể con người đối với những vật lạ xâm nhập vào cơ thể – một cơ chế bảo vệ để ngăn chặn sự xâm hại từ những yếu tố bất thường, thuộc về hệ miễn dịch. Tuy nhiên, trong các ca phẫu thuật cấy ghép, vấn đề này vẫn tồn tại, dù là với các vật liệu nhân tạo hay mô cấy ghép từ người khác. Hiện nay, phản ứng từ chối khi cấy ghép mô từ người khác có thể được kiểm soát bằng thuốc, nhưng đối với các vật liệu nhân tạo thì vẫn chưa có giải pháp hiệu quả.

Hơn nữa, khi cơ thể phát sinh phản ứng miễn dịch đối với giác mạc cấy ghép, điều này có thể gây ra tổn thương, viêm nhiễm tại vùng cấy ghép, cũng như tình trạng sẹo hình thành, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và thị lực của mắt. Đây chính là lý do chính khiến việc áp dụng giác mạc nhân tạo vào cấy ghép mắt vẫn còn gặp nhiều trở ngại.

Một vấn đề khác là các vật liệu nhân tạo này có thể gây ra tình trạng rò rỉ dịch trong mắt, khiến giác mạc cấy ghép bị tuột ra, vì vậy hiện nay chúng vẫn chưa thể được sử dụng rộng rãi.”

Còn giác mạc sinh học thì lại sử dụng các vật liệu sinh học có đặc tính ít hoặc không gây ra phản ứng từ chối, đồng thời mang lại hiệu quả điều trị rõ rệt, giúp những bệnh nhân bị tổn thương hoặc mất giác mạc phục hồi thị lực tốt hơn. Tuy nhiên, công nghệ giác mạc sinh học hiện vẫn chưa đủ phát triển; chúng ta vẫn chưa thể sản xuất ra những mẫu giác mạc sinh học hoàn thiện, chứ đừng nói đến việc tiến hành các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng sau khi được cấy ghép vào bề mặt mắt trong thời gian dài, giác mạc làm từ vật liệu sinh học có thể bị thoái hóa, teo lại, và những nếp nhăn xuất hiện bên trong giác mạc cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực.

Vì vậy, công nghệ giác mạc sinh học vẫn chỉ được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và chưa thể tìm ra bước tiến đáng kể. Mặc dù trong những năm gần đây, nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học, công ty dược phẩm và phòng thí nghiệm sinh học đều tuyên bố đã giải quyết được những vấn đề liên quan đến công nghệ giác mạc sinh học, nhưng dường như chưa có thông tin tiếp theo nào được công bố.”

Những gì Ngô Hoà nói đều là sự thật, không hề có bất kỳ phần nào được phóng đại. Thực

Và việc Ngô Hoà đề cập đến điều này tại buổi họp báo rõ ràng là ông ấy đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Điều này khiến không ít người trở nên háo hức chờ đợi. Mặc dù nhóm bệnh nhân mục tiêu khá nhỏ, chỉ hơn ba triệu người ở trong nước và khoảng sáu mươi triệu người trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, vì công nghệ này có ý nghĩa rất lớn và giá trị gia tăng của sản phẩm công nghệ này khá cao, nên doanh thu dự kiến từ nó cũng rất đáng kể.

Ngoài lợi ích kinh tế, công nghệ này còn mang lại tác động lớn trong lĩnh vực y sinh học và các lĩnh vực liên quan đến chăm sóc xã hội.

Trên sân khấu, Ngô Hoà cười nói: “Chắc mọi người cũng đoán ra rồi đúng không? Món quà Năm Mới mà chúng tôi muốn gửi đến mọi người lần này chính là liên quan đến giác mạc – đó chính là giác mạc nhân tạo.”

“Kể từ khi công nghệ in 3D sinh học của chúng tôi được phát triển thành công, chúng tôi luôn cố gắng sử dụng nó để in ra nhiều loại cơ quan và mô cơ thể con người hơn, nhằm cứu sống những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến các cơ quan này.

Giác mạc in 3D sinh học cũng là một trong nhiều dự án con được nghiên cứu bởi chúng tôi.

Mặc dù cấu trúc của giác mạc rất nhỏ, có thể coi là một trong những loại cơ quan và mô nhỏ nhất mà chúng tôi từng in ra, và có vẻ như rất dễ in, nhưng thực tế thì việc này lại cực kỳ khó khăn, thậm chí có thể nói là gặp rất nhiều trở ngại.”

Sau khi nói xong, Ngô Hoà nhìn quanh khán phòng rồi nói với vẻ bối rối: “Vấn đề lớn đầu tiên mà chúng tôi gặp phải chính là nguồn nguyên liệu để in giác mạc bằng công nghệ in 3D sinh học. Nếu không có nguyên liệu, chúng tôi sẽ không thể tiến hành in được.

Trước đây, nguyên liệu cần thiết cho việc in này thường được lấy từ các tế bào trong cơ thể bệnh nhân, sau đó được nuôi cấy và phân chia bằng phương pháp nhân bản, rồi mới sử dụng những tế bào này để in.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là các cơ quan và mô được in ra có thể được cấy ghép hoàn hảo vào cơ thể bệnh nhân mà không gây ra phản ứng đào thải. Bởi vì những tế bào này được nuôi cấy từ chính tế bào của bệnh nhân, nên đây là hình thức cấy ghép cùng loại, tỷ lệ thành công cao, và chức năng của cơ quan được cấy ghép cũng được duy trì tốt.

Nhưng khi in giác mạc sinh học, chúng tôi lại gặp phải nhiều khó khăn. Vấn đề đầu tiên chính là nguồn gốc của các tế bào cần dùng để in giác mạc. Bởi vì giác mạc trong tình trạng bình thường là trong suốt, và loại tế bào này cũng rất đặc biệt, nên chúng tôi cần phải lấy tế bào giác mạc từ m

Và đây chính là vấn đề phát sinh: những bệnh nhân mù do bệnh lý về giác mạc và cần phải được cấy ghép giác mạc thì hầu hết đều không còn giác mạc nguyên vẹn nữa; vậy làm thế nào để chúng ta có được các tế bào cần thiết cho việc nhân bản và nuôi cấy chúng?

Đương nhiên, chúng ta có thể lấy các tế bào này từ người khác, nhưng những chiếc giác mạc được sản xuất bằng phương pháp in 3D khi được cấy ghép vào cơ thể bệnh nhân sẽ gây ra phản ứng đào thải; đây chính là nhược điểm của việc cấy ghép từ người khác – bệnh nhân buộc phải sử dụng thuốc trong thời gian dài, thậm chí suốt đời để kiểm soát phản ứng đào thải.

Hơn nữa, việc lấy các tế bào khỏe mạnh từ giác mạc của người khác cũng rất khó khăn, bởi vì giác mạc khá mong manh và quá trình lấy tế bào tiềm ẩn nhiều rủi ro; do đó, rất khó tìm được những người tình nguyện hiến tặng giác mạc.

Vì vậy, chúng ta lại quay trở lại với câu hỏi ban đầu: làm thế nào để có được các tế bào giác mạc? Sau nhiều cuộc thảo luận, chúng tôi đã quyết định lấy tế bào trực tiếp từ cơ thể bệnh nhân.

Để thực hiện điều này, chúng tôi đã phát triển nhiều kỹ thuật lấy và nuôi cấy tế bào. Đầu tiên là phương pháp lấy trực tiếp, chỉ áp dụng cho những bệnh nhân bị bệnh lý về giác mạc hoặc chỉ một phần giác mạc bị tổn thương, chưa bị mất hoàn toàn. Cách thức này rất đơn giản và an toàn, chỉ cần lấy các tế bào hoạt tính từ giác mạc là được.

Còn đối với những bệnh nhân mà giác mạc đã bị mất hoàn toàn, chúng tôi sử dụng một phương pháp khác: lấy các tế bào tương ứng từ các cấu trúc khác trong mắt, sau đó tiến hành sàng lọc và nhân bản chúng.

Phương pháp này tuy phức tạp hơn và có một số rủi ro, chi phí cũng cao hơn, nhưng nó đã giải quyết được vấn đề khó khăn đối với những bệnh nhân này. Xét về mặt này, lợi ích vẫn lớn hơn rủi ro. Dù sao thì chúng ta cũng đang làm việc dựa trên cơ sở của những căn bệnh này, vì vậy mọi rủi ro đều có thể được kiểm soát được. So với việc giúp bệnh nhân lấy lại thị lực, chúng tôi cho rằng những rủi ro này vẫn đáng chấp nhận; dù sao thì mọi phẫu thuật và liệu pháp điều trị đều tiềm ẩn rủi ro, chỉ là mức độ rủi ro đó khác nhau mà thôi.

1/1 0%