lore

Chương 4156: Một lần phát triển, một bộ hệ thống, nhiều nền tảng

7,442 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

**Phiên bản sửa đổi**

“Đối với mối đe dọa phân tán như đàn máy bay không người lái này,” Ngô Hoà tiếp tục nói, “hệ thống sẽ tự động kích hoạt chế độ ‘phản kháng thông minh theo nhóm’.”

Mỗi đơn vị phòng không vừa là nút giao chiến, vừa là trung tâm thông tin, và chúng chia sẻ thông tin về tình hình chiến trường một cách thời gian thực thông qua mạng lưới liên lạc lượng tử.

Chỉ cần chỉ huy định vị khu vực bị đe dọa trong đầu, hệ thống sẽ điều phối các nguồn lực phòng không trong phạm vi 50 km xung quanh để thực hiện việc chặn đứng đối phương theo nguyên tắc “đàn ong đối đầu với đàn ong”.

Trong các cuộc thử nghiệm thực tế, hệ thống này đã thành công trong việc chặn đứng 92% số cuộc tấn công bằng máy bay không người lái mô phỏng, trong khi tỷ lệ chặn đứng của hệ thống phòng không truyền thống chỉ đạt 37%.

Chưa kịp Ngô Hoà nói hết, một chuyên gia về chiến tranh điện tử đã đứng lên hỏi: “Ông Ngô, chiến tranh điện tử đòi hỏi sự ‘nhanh chóng, chính xác và ẩn náu’; môi trường điện từ luôn thay đổi liên tục, do đó yêu cầu hệ thống phải có khả năng thích ứng cao. Làm thế nào để công nghệ này giúp các đơn vị chiến tranh điện tử giành được lợi thế trong cuộc đấu tranh giữa can thiệp và chống lại các biện pháp can thiệp?”

Nghe câu hỏi này, các chuyên gia dù ngồi trên sân khấu hay dưới khán đài đều gật đầu đồng ý; quả thực, yêu cầu đối với khả năng thích ứng của hệ thống trong chiến tranh điện tử là rất cao, và câu hỏi này thực sự rất quan trọng.

Tất cả mọi người đều nhìn về phía Ngô Hoà, chờ đợi câu trả lời của ông.

Đối mặt với ánh mắt của mọi người, Ngô Hoà chuyển hình ảnh sang giao diện trực quan của phổ điện từ; vô số sóng màu đang va chạm mạnh mẽ trong không gian ba chiều: “Chúng tôi đã phát triển công nghệ ‘can thiệp bằng xung thần kinh’ cho các thiết bị chiến tranh điện tử.”

Các thiết bị can thiệp điện tử truyền thống đòi hỏi người vận hành phải tự thủ công điều chỉnh các thông số như tần số, công suất… Trong khi đó, hệ thống tích hợp con người và máy móc có thể chuyển đổi trực tiếp các tín hiệu thần kinh thành các xung can thiệp có hình thức sóng cụ thể, dựa trên ý định chiến đấu của chỉ huy.

Ông phát lại đoạn video ghi lại một cuộc tập trận chiến tranh điện tử: Sau khi nhận được lệnh “khóa chặn dải tần thông tin của đối phương”, các thiết bị chiến tranh điện tử của chúng ta đã ngay lập tức phát ra các tín hiệu can thiệp hình răng lược trải dài trên dải tần 100MHz – 200MHz, khiến mạng lưới thông tin của đối phương bị tê liệt trong vòng 3 giây.

“Phương thức can thiệp này có tốc độ phản ứng nhanh hơn 20 lần so với cách thức thủ công; đồng thời, n

Chẳng hạn, việc mô phỏng một lực lượng thiết giáp không thực sự tồn tại có thể gây ra nhầm lẫn trong việc định hướng các loại vũ khí của đối phương. Trong một cuộc đối đầu giữa phe đỏ và phe xanh, chúng tôi chỉ sử dụng một cái khoang chiến tranh điện tử để kiềm chế lực lượng pháo binh của đối phương; tỷ lệ thương tích lên đến 1:27.”

Lúc này, một thanh niên làm việc trong ngành công nghiệp quốc phòng từ phía quân đội bắt đầu phát biểu: “Đối với các hoạt động đặc nhiệm, việc giảm trọng lượng và tăng tính kín đáo cho trang bị cá nhân là rất quan trọng. Liệu công nghệ này có thể được áp dụng vào hệ thống chiến đấu cá nhân không?”

Ngô Hoà ngay lập tức chuyển hình ảnh, hiển thị một mô hình ba chiều của chiếc áo vest chiến thuật, trên đó được trang bị đầy các cảm biến nhỏ li ti: “Chúng tôi đã phát triển các mô-đun tương tác người-máy siêu nhỏ gọn. Những cảm biến này có thể được tích hợp vào áo vest chiến thuật, mũ bảo hiểm, thậm chí là găng tay chiến đấu, để thu thập thông tin về tín hiệu thần kinh và tình trạng sinh lý của binh sĩ một cách thời gian thực.”

Ông cho xem một đoạn video mô phỏng hoạt động xâm nhập ở vùng núi: Khi các thành viên đội đặc nhiệm đưa ra lệnh “bật chế độ nhìn đêm” trong đầu, kính bảo hộ lập tức thay đổi chế độ; khi nhịp tim tăng nhanh hoặc nhận thấy có nguy cơ bị phục kích, hệ thống sẽ tự động gửi cảnh báo đến đồng đội và lập kế hoạch rút lui.

“Nhờ vào giao diện não-máy, số bước thao tác cần thực hiện với trang bị cá nhân đã giảm xuống 90%; trong các môi trường cực đoan như bóng tối hay địa hình phức tạp, hiệu quả truyền thông tin tăng lên gấp bốn lần.”

“Ngoài ra,” Ngô Hoà tiếp tục giải thích, “chúng tôi còn phát triển tính năng ‘tăng cường trực giác chiến thuật’ cho hệ thống này. Trí tuệ nhân tạo sẽ liên tục học hỏi thói quen chiến đấu của binh sĩ; khi gặp phải tình huống bất ngờ, hệ thống sẽ truyền đạt phương án tối ưu dưới dạng những gợi ý tiềm thức đến họ.”

“Ví dụ, trong các trận chiến ở hẻm núi, khi hệ thống phát hiện vị trí tiềm ẩn của xạ thủ đối phương, nó sẽ tạo ra một tín hiệu cảnh báo màu đỏ yếu ớt ở rìa tầm nhìn của binh sĩ, giúp họ thực hiện hành động tránh né trong vòng 0,3 giây. Trong các buổi huấn luyện mô phỏng, những thành viên đội đặc nhiệm sử dụng hệ thống này có tỷ lệ sống sót cao hơn 65%.”

Khi Ngô Hoà tiếp tục giải thích, không khí trong hội trường trở nên sôi nổi. Các chuyên gia từ các lĩnh vực quân sự khác cũng bắt đầu thể hiện sự quan tâm, hỏi Ngô Hoà liệu công nghệ này có th

Trước hết, về mặt phần cứng, tất cả các thiết bị điện tử đều được trang bị vỏ ngoài làm từ hợp kim titan kết hợp với graphene, có khả năng chịu đựng áp suất sâu biển lên đến 1100 atm, đồng thời sở hữu cả hai tính năng chống nhiễu điện từ và hấp thụ sóng âm.”

Anh ấy chiếu một đoạn video thử nghiệm dưới nước; tàu ngầm lao xuống độ sâu 600 mét một cách nhanh chóng, nhưng đường cong truyền tín hiệu thần kinh trên bảng điều khiển luôn ổn định.

“Về mặt truyền tín hiệu, chúng tôi đã loại bỏ phương thức giao tiếp bằng sóng điện từ truyền thống và thay vào đó sử dụng công nghệ truyền thông lượng tử qua neutrino.”

Phương thức giao tiếp này không bị ảnh hưởng bởi độ dẫn điện của nước biển; ngay cả trong những khu vực có từ trường bão hòa mạnh ở cực, việc truyền đi các lệnh vẫn có thể diễn ra với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng.

“Quan trọng hơn nữa,” Ngô Hoà tiếp tục giải thích, “các binh sĩ lái tàu ngầm thường xuyên phải sống trong môi trường kín, dễ gặp căng thẳng tâm lý. Hệ thống ‘AI đồng cảm sâu biển’ được tích hợp sẽ phân tích liên tục sóng não, giọng nói, ngữ điệu và thậm chí cả biểu cảm khuôn mặt của các sĩ quan và binh sĩ. Khi phát hiện chỉ số lo âu vượt quá mức cho phép, hệ thống sẽ tạo ra các cảnh tượng ảo như bình minh trên mặt biển hay tiếng chim hót trong rừng thông qua hình ảnh hologram bên trong khoang tàu, đồng thời điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và hệ thống mùi hương để giảm bớt mệt mỏi tâm lý.”

Trong cuộc thử nghiệm kiểm tra khả năng tự cung tự cấp trong 90 ngày của một loại tàu ngầm được trang bị hệ thống này, hiệu suất làm việc của các thủy thủ đã tăng lên 35%.

Lúc này, một vị lãnh đạo mặc đồng phục quân đội, với vẻ mặt nghiêm túc, đã đặt câu hỏi: “Ông Ngô, việc vận hành vũ khí chiến lược không thể chấp nhận bất kỳ sai sót nào; làm thế nào để đảm bảo tính tin cậy tuyệt đối của hệ thống kết hợp con người và máy móc trong các nhiệm vụ nhạy cảm như phản ứng hạt nhân?”

Ngô Hoà trả lời một cách nghiêm túc; hình ảnh trên màn hình chuyển sang sơ đồ cấu trúc bên trong hầm phóng tên lửa, sau đó anh ấy tiếp tục giải thích: “Chúng tôi đã xây dựng một hệ thống bảo vệ an ninh ‘ba trong một’ cho các hệ thống vũ khí chiến lược.”

Tầng đầu tiên là việc xác thực kép dựa trên đặc điểm sinh học và mã suy nghĩ; chỉ khi dấu vân tay, võng mạc và mẫu tín hiệu thần kinh đặc biệt của chỉ huy trùng khớp với nhau, thì quy trình phóng mới có thể được bắt đầu. Tầng thứ hai là kênh

1/1 0%