lore

Chương 135: Những bất đồng về mặt kỹ thuật

7,293 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Tất nhiên, đây chỉ mới là những vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc bay cao tốc và vượt qua các chướng ngại vật của máy bay không người lái mà thôi.

Để chiếc máy bay không người lái này có thể nhanh chóng phát hiện ra mục tiêu và xác định được đối tượng cần tấn công, đó cũng là một thách thức kỹ thuật cần được giải quyết gấp rút.

Để giải quyết vấn đề này, trước hết họ cần phải làm rõ rằng hệ thống tấn công bằng đội bay không người lái nhỏ gọn, tốc độ cao “Người dọn dẹp chiến trường” này thực sự được thiết kế để nhắm vào những mục tiêu nào.

Mục tiêu chính hàng đầu chắc chắn là những binh sĩ địch đang hoạt động trong môi trường không bị khép kín; đây chính là đối tượng tấn công chủ yếu của loại vũ khí này.

Tiếp theo là các kho đạn dược, các vị trí bố trí pháo bắn, hoặc một số điểm quân sự quan trọng của địch.

Ngoài ra, theo thiết kế của Ngô Hoà, những chiếc máy bay không người lái này cũng có thể tấn công một số loại phương tiện hạng nhẹ. Tất nhiên, nếu mỗi chiếc máy bay chỉ mang theo lượng đạn hạn chế thì chắc chắn sẽ không đủ hiệu quả.

Nhưng nếu thiết kế lại lượng đạn một cách đặc biệt sao cho chúng có thể phát nổ theo hướng nhất định, và nhiều chiếc máy bay không người lái cùng tạo thành một đội tấn công, thực hiện các cuộc tấn công liên tục vào cùng một điểm mục tiêu trong thời gian ngắn, thì luồng kim loại áp suất cao sinh ra từ các vụ nổ định hướng này cũng có thể xuyên thủng được thân xe của các phương tiện hạng nhẹ.

Nguyên lý này có phần giống với các loại đạn xuyên giáp hoặc đạn đào hang được thiết kế với cấu trúc nhiều lớp đạn được nối tiếp với nhau. Khi đối mặt với lớp giáp siêu cứng hoặc các công trình bê tông dày, các loại đạn này sử dụng nguyên lý nổ liên tiếp, tăng dần cường độ, cho đến khi xuyên thủng được lớp bảo vệ và đến được bên trong mục tiêu.

Nếu giao nhiệm vụ phát hiện và nhận diện mục tiêu cho con người, chắc chắn sẽ không có vấn đề gì. Ngay cả những người bình thường chưa được đào tạo chuyên nghiệp cũng có thể phân biệt được đó là người hay là phương tiện. Còn những chiến sĩ đã được đào tạo bài bản thì càng không cần nói, họ sẽ phát hiện và nhận diện mục tiêu nhanh hơn và chính xác hơn nữa.

Tất nhiên, con người cũng có những hạn chế; bởi vì rất khó để họ nhận biết được những phương tiện hoặc cá nhân đang ẩn náu, che giấu mình.

Vì vậy, lúc này chúng ta cần sự hỗ trợ của các thiết bị. Nhưng làm thế nào để các thiết bị, hay nói cách khác là hệ thống, có thể tự động xác định danh tính của mục tiêu và thực hiện các cuộc tấn công có chọn lọc? Đây cũng là vấn đề cần được giải quyết.

Đúng vậy, đó chính là những mâu thuẫn. Khi được áp dụng trong lĩnh vực quân sự, những công nghệ này nhằm mục đích phát hiện và tiêu diệt kẻ thù.

Còn khi được sử dụng trong lĩnh vực tìm kiếm cứu hộ, chúng lại giúp tìm ra những người bị mắc kẹt hoặc bị chôn vùi, từ đó cứu sống họ.

Về cơ bản, bản thân các công nghệ này không có gì sai trái; điều quan trọng là cách sử dụng chúng và người vận dụng chúng mới là yếu tố quyết định.

Nói một cách đơn giản, những công nghệ này đều dựa vào các đặc điểm sinh lý của con người để thăm dò và nhận diện mục tiêu.

Chẳng hạn, công nghệ dò tia hồng ngoại sử dụng nguyên lý rằng bất kỳ vật thể nào có nhiệt độ cao hơn không độ tuyệt đối đều phát ra bức xạ hồng ngoại để phát hiện con người. Mặc dù trên thế giới có rất nhiều vật thể có tính chất phát bức xạ hồng ngoại, nhưng bức xạ hồng ngoại từ cơ thể con người khác biệt so với môi trường xung quanh. Các thiết bị dò tia hồng ngoại sử dụng sự khác biệt này để phân biệt đối tượng cần tìm kiếm với nền background thông qua việc tạo hình ảnh. Đây chính là những máy dò hình ảnh nhiệt, được sử dụng rộng rãi trong quân sự, và nguyên lý cũng như công nghệ của chúng khá đơn giản.

Còn công nghệ dò radar thì dựa trên nguyên lý phản xạ sóng điện từ. Bằng cách phát hiện những dao động nhỏ do hoạt động sống của con người gây ra, chúng có thể thu thập thông tin về hơi thở, nhịp tim, từ đó xác định liệu có sự sống hay không. So với công nghệ dò tia hồng ngoại, radar có khả năng hoạt động tự động, ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn hay địa hình hiện trường; cơ chế phát sóng liên tục cũng giúp nó tăng cường khả năng dò tìm trong phạm vi rộng hơn. Vì vậy, công nghệ này đã bổ sung đáng kể cho những hạn chế của công nghệ dò tia hồng ngoại.

Công nghệ dò âm thanh thì ít được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Nó chủ yếu dựa vào việc nghe những âm thanh nhỏ để phát hiện nhịp tim, hơi thở hoặc các động tác nhỏ của con người, từ đó xác định liệu có sự sống dưới lòng đất hay không. Tuy nhiên, trên chiến trường với môi trường ồn ào, công nghệ này gần như không thể được áp dụng, vì vậy chúng ta không cần xem xét nó nhiều.

Cuối cùng, công nghệ dò hình ảnh video cũng dựa trên việc phân tích các hình ảnh trong video để xác định xem đó là con người, vật thể hay phương tiện giao thông… Ngoài ra, công nghệ này cũng được sử dụng để nhận diện xe cộ, vị trí đặt pháo, hay các đống đạn.

Vì vậy, về mặt các công nghệ dò tìm và nhận diện, thực ra không có nhiều

Không cần nói đến những điều khác, chỉ riêng kích thước và trọng lượng của những thiết bị này trên thị trường đã đủ khiến họ đau đầu rồi.

Trong phòng họp nhỏ tại phòng thí nghiệm tầng ba, Ngô Hoà cùng với Dương Phàm và một số kỹ thuật viên đang hút thuốc, với vẻ mặt cau có đang suy nghĩ về vấn đề này.

Gạt tàn thuốc gần như đã chất đầy các điếu thuốc còn lại, cùng với làn khói lan tỏa trong phòng họp, tất cả đều cho thấy cuộc họp này đã kéo dài khá lâu rồi.

“Tôi vẫn giữ quan điểm ban đầu, nên ưu tiên sử dụng công nghệ radar để dò tìm, kết hợp với việc đo khoảng cách bằng laser. Như vậy, thời gian phản ứng của chúng ta sẽ nhanh hơn nhiều, giúp chúng ta nhanh chóng phát hiện ra các chướng ngại vật và kịp thời điều chỉnh hướng di chuyển để tránh chúng,” Dương Phàm nói, đè điếu thuốc xuống gạt tàn và nói một cách kiên quyết với mọi người.

Sau khi Dương Phàm nói xong, mọi người đều gật đầu đồng ý. Tuy nhiên, có một người trẻ tuổi khoảng hai mươi tám, hai mươi chín tuổi, đeo kính, lại lắc đầu và nói: “Tôi vẫn giữ ý kiến của mình. Công nghệ nhận dạng hình ảnh chắc chắn là một công nghệ rất tiềm năng. Nếu chúng ta có thể áp dụng nó, không chỉ có thể giải quyết vấn đề phát hiện và nhận diện các chướng ngại vật cũng như lộ trình di chuyển, mà còn có thể được sử dụng trong việc phát hiện và nhận diện các mục tiêu. Như vậy, chúng ta sẽ tiết kiệm được khá nhiều không gian và trọng lượng cho thiết bị.”

Người này tên là Pang Yifei, là tiến sĩ từ Đại học Huada, và anh ấy có những hiểu biết sâu sắc về công nghệ cảm nhận động và xử lý thông tin. Lâm Kiến Liáng đã phải rất vất vả mới có thể chiêu mộ anh ấy từ một tổ chức nghiên cứu nào đó.

Mặc dù Pang Yifei mới tham gia vào nhóm này không lâu, nhưng anh ấy đã đóng vai trò rất quan trọng trong một số lĩnh vực. Chính vì vậy, Ngô Hoà rất đánh giá cao anh ấy và cho phép anh ấy tham gia vào công việc nghiên cứu và phát triển hệ thống cốt lõi.

Lần này, trong lĩnh vực công nghệ cảm nhận động của máy bay không người lái, Pang Yifei và Dương Phàm – hai người bạn thân thiện với nhau – đã xảy ra bất đồng quan điểm, và không ai chịu nhượng bộ.

“Công nghệ radar cũng hoàn toàn có thể được sử dụng,” Dương Phàm đáp trả.

Pang Yifei lắc đầu: “Chỉ là có thể thôi, còn công nghệ nhận dạng hình ảnh thì có thể làm được tốt hơn nhiều.”

“Bạn…”

1/1 0%