lore

Chương 4341: Hãy để ngay cả những chiếc ghế lạnh lẽo cũng mọc ra những mầm non mơn mởn.

7,267 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Bỗng nhiên, Phó tổng giám đốc Trương nghĩ đến điều gì đó và hỏi: “Lực lượng biên phòng khi tuần tra trên cao nguyên, đôi khi phải dùng bánh quy nén để no bụng. Liệu có thể sử dụng những vi sinh vật này để tạo ra loại ‘thức ăn năng lượng cao’ không?”

“Chúng tôi đang thử nghiệm,” Tiến sĩ Triệu cười nói và mở ra tài liệu dự án, tiếp tục giải thích: “Chúng tôi đã hợp tác với Học viện Hậu cần để sử dụng vi khuẩn ưa muối lên men lúa mạch xanh, tạo ra loại bánh quy nén có hàm lượng calo cao hơn 30% so với loại thông thường; đồng thời, chúng không bị cứng lại ở nhiệt độ âm 30 độ C và cũng không bị tan rã sau khi ngâm nước.”

Điều quan trọng hơn là, các vi khuẩn có lợi trong đó có thể giúp điều chỉnh hệ tiêu hóa trong môi trường thiếu oxy trên cao nguyên. Năm ngoái, khi thử nghiệm trên cao nguyên, các chiến sĩ cho biết loại thức ăn này giúp họ no lâu hơn và ít bị đầy hơi hơn so với các loại thức ăn trước đây.

Giáo sư Chu vuốt ria mép, nhìn vào các bảng trình bày trình tự gen của các vi sinh vật cực đoan trên màn hình và thốt lên: “Trước đây, tôi luôn nghĩ rằng Môi trường cực đoan là vùng cấm đối với sự sống, không ngờ nơi đây lại ẩn chứa nhiều “báu vật” như vậy.”

Những gì các bạn làm không chỉ là khám phá, mà còn biến những “sinh mệnh ở rìa lề” này thành những công nghệ hữu ích – đó mới chính là ý nghĩa thực sự của việc “biến rác thành vàng”.

“Quý vị nói đúng,” Tiến sĩ Triệu nhìn những đèn báo hiệu trong các buồng nuôi cấy đang nhấp nháy và cười nói: “Quá trình tiến hóa 4,6 tỷ năm của Trái Đất đã chuẩn bị sẵn “giải pháp” cho các môi trường cực đoan. Những gì chúng tôi làm, chính là tìm ra những “trí tuệ tự nhiên” này và áp dụng chúng vào những nơi cần thiết.”

Dù là xử lý nước thải tại các trạm kiểm lâm biên giới, bảo vệ môi trường tại các nhà máy điện hạt nhân, hay thậm chí là việc xử lý chất thải trong các sứ mệnh thám hiểm vũ trụ sâu thẳm… Vi sinh vật cực đoan có thể hữu ích hơn chúng ta tưởng tượng nhiều.

Khi lời nói của Tiến sĩ Triệu kết thúc, Ngô Hoà cười và tiếp lời, ánh mắt anh quét qua mọi người có mặt, giọng nói chân thành và đầy tin tưởng: “Giáo sư Chu vừa nói về việc ‘biến rác thành vàng’, nhưng thực ra, lý do chúng tôi xây dựng những phòng thí nghiệm này chính là để không để những ‘trí tuệ tự nhiên’ này bị lãng quên.”

Anh vẫy tay, yêu cầu mọi người nhìn ra ngoài cửa sổ, về phía sa mạc Gobi xa xôi, nơi có thể nhìn thấy

Trước đây, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải chịu đựng một cách gian khổ, hoặc sử dụng những công nghệ đắt tiền để giải quyết những vấn đề đó một cách gượng ép.

Nhưng bây giờ, chúng tôi nhận ra rằng Trái Đất đã sẵn sàng “chìa khóa” để giải quyết những thách thức này – những “chìa khóa” ấy ẩn náu trong những vùng đất mặn, vùng đất đóng băng, hay các nguồn nước nóng dưới biển mà người khác coi là vô ích.

Ngô Hoà đi đến một bức tường trưng bày, nơi có một bản đồ được đánh dấu bằng nhiều điểm đỏ, và tiếp tục nói: “Việc xây dựng phòng thí nghiệm này, trước hết là để tìm ra những ‘chìa khóa’ đó.”

Các vi sinh vật sống trong môi trường cực đoan không chỉ là những mẫu vật trong phòng thí nghiệm; chúng phải thực sự có khả năng giải quyết các vấn đề thực tế. Như Tiến sĩ Triệu đã nói: từ thiên nhiên đến nơi chúng cần được sử dụng.

Nói sâu hơn nữa, nguồn tài nguyên sinh học là nguồn tài nguyên chiến lược của quốc gia. Trước đây, nhiều nghiên cứu về các vi sinh vật sống trong môi trường cực đoan đều phụ thuộc vào công nghệ do người khác nắm giữ. Chẳng hạn, enzyme hoạt động ở nhiệt độ thấp mà chúng ta vừa đề cập đến – trước đây, mỗi tấn loại enzyme này có giá lên đến 8 triệu đồng. Không phải chúng tôi không đủ khả năng mua, mà là việc phải phụ thuộc vào người khác khiến chúng tôi cảm thấy rất bất tiện.

Chúng tôi xây dựng phòng thí nghiệm này chính là để tự mình nghiên cứu và phát triển, nắm giữ công nghệ then chốt trong tay mình, từ đó giảm chi phí và tăng tính linh hoạt trong ứng dụng.

Anh ta dừng lại một chút, rồi chỉ vào vài điểm đỏ trên bản đồ và cười nói: “Hơn nữa, các bạn hãy nhìn xem, những phòng thí nghiệm sinh học như thế này, chúng tôi không chỉ có một cái thôi. Chúng tôi còn có nhiều phòng thí nghiệm khác dành riêng cho các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau – có phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về thực vật, phòng thí nghiệm P4 chuyên nghiên cứu về vi khuẩn, phòng thí nghiệm P3 chuyên nghiên cứu về virus… Và còn nhiều phòng thí nghiệm khác nữa.”

“Mỗi phòng thí nghiệm đều có trọng tâm nghiên cứu riêng, nhưng mục tiêu chung của tất cả đều là nghiên cứu kỹ lưỡng và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sinh học. Có những phòng thí nghiệm giải quyết các vấn đề cụ thể ngay lập tức, như an ninh biên giới, bảo vệ môi trường, sản xuất lương thực; có những phòng thí nghiệm hướng tới tương lai xa hơn, như thám hiểm vũ trụ sâu thẳm hay sản xuất dược phẩm sinh học.”

“Chúng

Giáo sư Chu nghe vậy liền gật đầu và nhìn vào các điểm màu đỏ trên bản đồ, không khỏi khen ngợi: “Tốt lắm, nếu càng có nhiều kế hoạch thiết thực như thế này, công nghệ sinh học của chúng ta mới thực sự có thể vững chãi và phát triển lâu dài được.”

Phó tổng giám đốc Trương cảm thán: “Tôi tưởng rằng việc này chỉ là tiêu tiền cho những nghiên cứu ít người quan tâm, nhưng bây giờ thấy rằng đây chính là việc đang xây dựng con đường cho tương lai.”

Uông Lương Công cũng gật đầu và nói với Ngô Hoà: “Tôi đã nghe nói từ lâu rằng các bạn đã đạt được những thành tích xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ sinh học, và bây giờ thấy rằng danh tiếng đó quả thực xứng đáng.”

Ngô Hoà cười và phủ nhận: “Uông Công quá khen rồi, tất cả đều là thành quả của sự nỗ lực chung của cả nhóm.”

Thực ra, để những thành quả này có thể được áp dụng thực tế, sự hỗ trợ của các bộ phận là điều không thể thiếu. Chẳng hạn, loại vi khuẩn chịu được bức xạ mà Tiến sĩ Triệu và nhóm của ông nghiên cứu ra – nếu không có môi trường thử nghiệm do các nhà máy điện hạt nhân cung cấp, thì chỉ có thể nuôi chúng trong phòng thí nghiệm mà không thể thu được kết quả thực sự.”

Đang nói chuyện, Tiến sĩ Triệu dẫn mọi người đến khu vực vô trùng ở sâu bên trong phòng thí nghiệm. Qua lớp kính hai lớp, mọi người có thể thấy các nhà khoa học đang sử dụng pipet để nhỏ dung dịch trong suốt vào các ống nuôi cấy, trong khi trên màn hình bên cạnh liên tục hiển thị dữ liệu giải trình tự gen.

“Đây là dự án ‘Kho enzyme cực đoan’ mà chúng tôi vừa bắt đầu,” Tiến sĩ Triệu giải thích, chỉ vào chuỗi axit amin đang liên tục hiển thị trên màn hình: “Chúng tôi đã lựa chọn được 372 loại enzyme đặc biệt từ hơn 10.000 loại vi sinh vật cực đoan.”

Mọi người nhìn vào một mô hình phân tử hình xoắn ốc mà ông vừa hiển thị và nghe ông giải thích: “Loại enzyme α-amylase được chiết xuất từ suối nước nóng có tính axit này vẫn giữ được 90% hoạt tính trong môi trường pH 2,0, 80°C. Trước đây, để xử lý các chất bẩn chứa tinh bột trong nước thải công nghiệp, chúng ta phải điều chỉnh độ axit-base và kiểm soát nhiệt độ trước; nhưng bây giờ chỉ cần thêm loại enzyme này vào là có thể sử dụng ngay, giúp giảm chi phí xử lý xuống 60%.”

Nghe Tiến sĩ Triệu nói vậy, mọi người đều rất hứng thú. Một chuyên gia từ Viện Hàn lâm Khoa học cũng hỏi: “Trong dự án xử lý nước thải của chúng tôi, có một số nhà máy hóa chất có nước thải có độ axit-base rất không ổn định; loại enzyme này chính là giải pháp lý tưởng! Liệu các bạn có thể cung cấp cho chúng tôi m

1/1 0%