lore

Chương 1969: Tế bào nhân bản

7,080 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

**Phiên bản sửa đổi**

“Ngoài ra, loại dung dịch bảo quản đặc biệt này có thể giữ cho các tế bào cần được in ở nhiệt độ thấp, khiến chúng ở trạng thái ngủ đông và hoạt động rất ít. Điều này giúp kéo dài thời gian bảo quản các tế bào, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình in 3D sau này.

Tất nhiên, việc sử dụng chất lỏng để bảo quản và vận chuyển tế bào có cả ưu và nhược điểm. Nhược điểm lớn nhất là các chất lỏng này có thể bám vào các tế bào siêu nhỏ; vì vậy, việc loại bỏ lượng nước thừa mà không làm tổn hại đến tế bào trước khi in là một thách thức kỹ thuật rất lớn.

Hơn nữa, số lượng tế bào cần được in lên tới hàng triệu. Trong số đó, chắc chắn sẽ có những tế bào bất thường như tế bào chết, tế bào biến đổi, hay các loại tế bào khác nhau. Làm thế nào để loại bỏ những tế bào này, đảm bảo rằng chúng không bị đưa vào cơ quan hay mô cần được in, cũng là một vấn đề kỹ thuật cần được giải quyết gấp rút.

Trước đây, việc giải quyết vấn đề này gần như là bất khả thi. Nhưng hiện nay, nhờ vào hệ thống trí tuệ nhân tạo, chúng ta có thể theo dõi liên tục tình trạng của các tế bào trong quá trình vận chuyển, và sử dụng những thiết bị cực nhỏ để loại bỏ những tế bào xấu xa có trong đám tế bào lớn này một cách chính xác, đảm bảo rằng chỉ những tế bào khỏe mạnh mới được sử dụng để in.”

Nói đến đây, Ngô Hoà thở phào nhẹ nhõm rồi cười nói: “Sau khi giải quyết được hàng loạt vấn đề này, bước tiếp theo chính là quá trình in. Làm thế nào để kết hợp và ghép nối các loại tế bào lại với nhau cũng là điều chúng ta cần giải quyết.”

“Sử dụng phương pháp ép nóng hay đông cứng bằng ánh sáng?”

Ngô Hoà cười và lắc đầu: “Tế bào là sinh vật sống; việc kết hợp và xếp chúng lại một cách có tổ chức, dù là bằng phương pháp ép nóng hay đông cứng bằng ánh sáng, đều không thích hợp. Vì vậy, chúng ta cần một công nghệ in hoàn toàn mới.”

Mọi người đều biết rằng quá trình lành vết thương ở con người thường qua một số giai đoạn cơ bản. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn viêm cấp tính: vết thương bắt đầu có những thay đổi, có hiện tượng hoại tử mô và vỡ mạch máu gây chảy máu; trong vài giờ, phản ứng viêm sẽ xuất hiện, dẫn đến tình trạng sưng tấy, dịch tiết và bạch cầu di chuyển đến vùng bị thương. Sau đó, fibrinogen trong máu và dịch tiết từ vết thương sẽ nhanh chóng đông lại thành cục máu đông, tạo thành lớp vảy bên ngoài, có tác dụng cầm máu, bảo vệ vết thương và ngăn ngừa nhiễm trùng.

Gia

Sự tăng sinh của mô sẹo và quá trình hình thành sẹo thường bắt đầu vào ngày thứ ba sau khi bị thương. Mô sẹo sẽ mọc lên từ phía dưới và các mép vết thương, giúp lấp đầy chỗ hở. Từ ngày thứ năm hoặc thứ sáu trở đi, các tế bào sợi sẽ sản xuất ra sợi collagen; trong tuần tiếp theo, quá trình hình thành sợi collagen diễn ra rất mạnh mẽ, sau đó tốc độ này sẽ dần chậm lại. Khi lượng sợi collagen ngày càng tăng, quá trình hình thành sẹo bắt đầu diễn ra, và khoảng một tháng sau khi bị thương, sẹo sẽ được hình thành hoàn chỉnh. Có lẽ do tác động của áp lực tại vùng đó, các sợi collagen trong sẹo cuối cùng sẽ song song với bề mặt da.

Vì vậy, trong quá trình in ấn các cơ quan và mô, chúng ta cũng cần mô phỏng quá trình lành vết thương bằng cách thoa một loại gel sinh học được phát triển dựa trên nghiên cứu về collagen. Loại gel này có khả năng kết dính các tế bào lại với nhau một cách đồng đều và sau đó được các tế bào hấp thụ hoàn toàn, không để lại bất kỳ dư lượng nào. Nhờ vậy, qua nhiều lần in ấn liên tục, chúng ta có thể thu được những cơ quan và mô sinh học 3D hoàn chỉnh như mong muốn.

“Đơn Giản phải không? Có vẻ như rất đơn giản, nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn, có một vấn đề mà chúng ta có lẽ đã bỏ qua, đó là nguồn gốc của các tế bào được sử dụng cho việc in ấn các cơ quan và mô này.”

Nghe thấy câu hỏi này, tất cả mọi người đang xem buổi truyền sóng đều bắt đầu bàn tán thắc mắc. Thật vậy, nguồn gốc của những tế bào này là từ đâu? Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra: có người cho rằng chúng được lấy trực tiếp từ cơ thể bệnh nhân sau khi được phân lập, có người nghĩ rằng chúng đến từ những người hiến tặng, và cũng có người cho rằng chúng được sản xuất trong phòng thí nghiệm.

Ngô Hoà cười một cái rồi trả lời: “Về vấn đề nguồn gốc của tế bào, trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi luôn tồn tại những ý kiến khác biệt. Một số người cho rằng chúng ta nên tìm ra một loại tế bào gốc ‘toàn năng’, sau đó thông qua quá trình nhân bản và phân chia liên tục, cuối cùng sẽ tạo ra những tế bào sinh học đặc biệt dùng cho việc in ấn.

Tuy nhiên, phương pháp này sẽ gặp phải một vấn đề đó là các cơ quan và mô được in ra không phải là của chính bệnh nhân, vì vậy khi được cấy ghép vào cơ thể bệnh nhân sẽ xảy ra phản ứng đào thải. Điều này đòi hỏi bệnh nhân phải liên tục uống thuốc, và những cơ quan được tạo ra theo phương pháp này thường có tuổi thọ không dài, hiệu quả hồi phục cũng không tốt, không thể giúp bệnh nhân thực s

Mặc dù độ khó cao hơn và yêu cầu về kỹ thuật cũng lớn hơn, nhưng phương pháp này lại có thể chữa trị bệnh nhân tốt hơn, mang lại sức khỏe cho họ.

Vì vậy, chúng ta cần giải quyết vấn đề liên quan đến công nghệ nhân bản tế bào soma. Một lần nữa, công nghệ này có vẻ rất đơn giản. Dù sao thì trong suy nghĩ của mọi người, công nghệ nhân bản đã tồn tại từ hàng chục năm trước rồi, nên chắc hẳn không gặp phải vấn đề gì đâu.

Tuy nhiên, công nghệ nhân bản mà mọi người biết đến hoàn toàn khác với công nghệ nhân bản mà chúng ta cần. Chúng ta không thể sử dụng cơ thể mẹ để thực hiện quá trình nhân bản, bởi điều này sẽ gây ra nhiều vấn đề về đạo đức xã hội, lý thuyết và pháp luật. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể tiến hành quá trình nhân bản in vitro, và điều này đòi hỏi chúng ta phải phát triển một loại “môi trường nhân tạo” hay “nhau thai nhân tạo”.

Hơn nữa, thiết bị này phải có hiệu suất đủ cao, để có thể nhân bản được đủ số lượng tế bào trong thời gian ngắn nhất.

Mọi người đều biết rằng những bệnh nhân cần được ghép tạng thường ở trong tình trạng nguy kịch, vì vậy họ không có nhiều thời gian để chờ đợi. Điều này đòi hỏi rằng, dù là quá trình nhân bản tế bào hay in 3D sinh học, chúng ta đều phải thực hiện nó trong thời gian cực kỳ ngắn.

Tuy nhiên, quá trình phân chia và nhân lên của tế bào, bao gồm cả việc nhân bản, đều cần thời gian. Sử dụng các loại hormone đặc biệt có thể đẩy nhanh quá trình này, nhưng việc làm này cũng có thể gây ra những tác hại; các cơ quan được in ra cũng có thể gặp vấn đề và khi được cấy vào cơ thể bệnh nhân, chúng có thể gây nguy hiểm cho họ.

Do đó, chúng ta cần một công nghệ nhân bản tế bào hoàn toàn mới, có khả năng giúp tế bào phân chia và phát triển một cách nhanh chóng và khỏe mạnh, nhằm thu được đủ số lượng tế bào nhân bản trong thời gian ngắn nhất.

Để nghiên cứu ra công nghệ này, chúng tôi đã đầu tư rất nhiều vốn, nhân lực và tài nguyên, đồng thời hợp tác với các viện nghiên cứu và trường đại học nổi tiếng trong nước và quốc tế để bắt đầu hành trình nghiên cứu kéo dài này.

Chúng tôi cũng đã mời các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan, cùng với các chuyên gia y khoa, để cùng nhau thảo luận và nghiên cứu, và cuối cùng đã đưa ra một phương án nghiên cứu khả thi.

1/1 0%