lore

Chương 4514: Phòng thí nghiệm Mặt Trăng

7,094 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Mã mẫu YL-73, độ sâu lấy mẫu là 1,2 mét, nhiệt độ bảo quản là -5°C, trong tình trạng được niêm phong kín trong chân không.” Trần Ngọc hiển thị thông tin về mẫu vật và gửi dữ liệu này đến các thiết bị đeo tay của ba người. “Bước đầu tiên trong thí nghiệm là cần từ từ nâng nhiệt độ của mẫu đất mặt trăng lên 25°C để tránh làm mất hoạt tính của vi sinh vật do sự thay đổi nhiệt độ đột ngột; tốc độ nâng nhiệt cần được kiểm soát ở mức 0,5°C mỗi phút.”

“Nhận rõ, chương trình nâng nhiệt đã được tải vào thiết bị điều khiển.” Lưu Xương đặt hộp mẫu vào lò ấm độc lập và nhấn nút khởi động; ngay lập tức, đường cong nhiệt độ xuất hiện trên màn hình. “Hồn Nguyệt Hồ và Đội trưởng Lâm, quá trình nâng nhiệt mẫu đất mặt trăng đã bắt đầu. Nhiệt độ ban đầu là -5°C, mục tiêu là 25°C, tốc độ nâng nhiệt hiện tại là 0,48°C mỗi phút, đáp ứng yêu cầu.”

Trương Minh đứng trước khu vực nuôi cấy và kiểm tra tình trạng của ba chiếc lò ấm thông minh: “Lò ấm số 1: nhiệt độ 25°C, độ ẩm 60%, nồng độ carbon dioxide 0,04%, mô phỏng môi trường bề mặt Trái Đất; Lò ấm số 2: nhiệt độ 15°C, độ ẩm 40%, nồng độ carbon dioxide 0,1%, mô phỏng sinh thái vùng cực của Mặt Trăng; Lò ấm số 3: nhiệt độ 30°C, độ ẩm 80%, nồng độ carbon dioxide 0,02%, dùng làm nhóm đối chứng cho môi trường cực đoan. Các thiết bị đang hoạt động bình thường, không có báo động nào xảy ra.”

Trần Ngọc đưa cho Lý Tuệ một cây ống hút vô trùng: “Bước tiếp theo, sau khi nhiệt độ của mẫu đất mặt trăng ổn định, cần dùng dung dịch sinh lý vô trùng để pha loãng mẫu theo tỷ lệ 1:10, sau đó lấy 0,1 ml hỗn hợp đã pha loãng để tiêm lên bề mặt môi trường nuôi cấy. Độ chính xác của ống hút đã được calibrat lại thành 0,1 ml, sai số không vượt quá ±0,005 ml.”

“Rõ rồi, thao tác pha loãng sẽ được thực hiện trong buồng làm việc vô trùng, toàn bộ quá trình đều diễn ra trong môi trường vô trùng.” Lý Tuệ đeo đôi găng tay vô trùng hai lớp, cầm chuôi ống hút và cảm nhận sự chính xác của thiết bị này. “Ngô Cường số 01 yêu cầu bật buồng làm việc vô trùng, tốc độ gió là 0,3 mét/giây, tiến hành khử trùng bằng tia cực tím trong 30 phút.”

“Được phép bật,” giọng Đội trưởng Lâm vang lên. “Buồng làm việc vô trùng đã bắt đầu quá trình khử trùng bằng tia cực tím, thời gian đếm ngược là 29 phút 58 giây.”

Trong lúc chờ đợi quá trình khử trùng, Trần Ngọc mở ra sơ đồ thực hiện th

“Quá trình tiêu độc bằng tia cực tím đã hoàn tất, bàn làm việc vô trùng bắt đầu phun không khí.” 30 phút sau, đèn báo trên bàn làm việc chuyển từ màu đỏ sang màu xanh lá. Lý Tuệ mở lò ấm đều nhiệt độ, lấy ra hũ mẫu đất mặt trăng; lớp sương giá trên thành hũ đã tan hết: “Nhiệt độ của đất mặt trăng đã ổn định ở mức 25°C, độ ẩm là 5%, đáp ứng điều kiện để pha loãng.”

Trương Minh đưa cho anh một chai dung dịch sinh lý vô trùng: “Nồng độ dung dịch sinh lý là 0,9%, độ vô trùng đạt mức 100, thân chai không bị hỏng, thời hạn sử dụng còn lại 6 tháng.”

Lý Tuệ đổ mẫu đất mặt trăng vào ống ly tâm vô trùng, sau đó thêm dung dịch sinh lý theo đúng tỷ lệ và khuấy đều: “Quá trình pha loãng đang diễn ra, tỷ lệ giữa đất mặt trăng và dung dịch sinh lý là 1:10, thời gian khuấy là 30 giây; không có cặn nào xuất hiện.” Anh nhấc ống ly tâm lên và quan sát dưới ánh sáng; dung dịch có màu xám nhạt và không chứa tạp chất nào rõ ràng.

“Sử dụng ống hút để lấy 0,1 ml dung dịch đã được pha loãng, chuẩn bị tiến hành thao tác cấy ghép,” Lý Tuệ nói. Anh đặt đầu hút của ống hút vào giữa môi trường nuôi cấy, từ từ nhấn nút đẩy; dòng chất màu xám nhạt tạo thành một điểm đều trên bề mặt môi trường nuôi cấy trong suốt. “Thao tác cấy ghép đã hoàn tất. Các mẫu nuôi cấy được đánh số A1 (nhóm môi trường bề mặt), A2 (nhóm môi trường cực địa), A3 (nhóm Môi trường cực đoan).”

Lưu Xương ngay lập tức dùng màng bọc niêm phong các mép của các chiếc đĩa nuôi cấy: “Thao tác niêm phong đã hoàn tất; không có rò rỉ chất lỏng, bề mặt đĩa nuôi cấy cũng không bị xước, có thể đưa vào lò ấm nuôi cấy.”

Trương Minh lần lượt đặt các đĩa nuôi cấy vào các lò ấm tương ứng; khi đóng cửa lò, anh nghe thấy tiếng khóa kín êm ái: “Lò ấm đã được đóng kín, các thông số vận hành đã được thiết lập, hệ thống sẽ tự động ghi lại biến động về nhiệt độ và độ ẩm; phạm vi biến động là ±0,5°C và ±2%.”

“Hồn Nguyệt Hồ và Đội trưởng Lâm, thao tác cấy ghép vi sinh vật vào đất mặt trăng đã hoàn tất, bây giờ chúng ta bước vào giai đoạn nuôi cấy,” Lý Tuệ báo cáo qua bộ đàm. “Hiện tại là 09:45 theo giờ tiêu chuẩn của Mặt Trăng; dự kiến kết quả kiểm tra đầu tiên sẽ được thu được vào lúc 21:45.”

Nhóm của Tiến sĩ Trần tại trung tâm chỉ huy đã phản hồi: “Quy trình thao tác rất chuẩn xác, các thông số được thiết lập đúng đắn. Hãy chú ý quan sát tình trạng vận hành của lò ấm nuôi cấy; nếu có

Trương Minh đang ghi lại các dữ liệu ban đầu trên thiết bị ghi nhật ký thí nghiệm: “Trọng lượng mẫu đất mặt trăng là 10 gam, thể tích dung dịch pha loãng là 100 mililit, lượng vi sinh vật được cấy vào là 0,1 mililit, giá trị pH của môi trường nuôi cấy là 7,2; tất cả các thông số đều phù hợp với kế hoạch thí nghiệm.”

Vào buổi trưa, trên màn hình giám sát khu vực nuôi cấy đã xuất hiện những thay đổi nhỏ: trên bề mặt môi trường nuôi cấy trong các ống nghiệm nhóm A1, các điểm màu xám nhạt có viền bao quanh được phủ một lớp ánh sáng trong suốt mờ nhạt. Lý Tuệ ngay lập tức báo cáo với Trần Ngọc: “Tiến sĩ Trần Ngọc, nhóm A1 có dấu hiệu của sự phát triển của vi sinh vật; đường kính của vùng ánh sáng này khoảng 2 milimet và không có mùi lạ nào được sản sinh ra.”

Sau khi quan sát qua hình ảnh trực tiếp, Trần Ngọc nói với giọng đầy hứng thú: “Đây chính là đặc điểm trao đổi chất đặc trưng của loại vi khuẩn chịu được silic! Khi chúng tiêu thụ nguyên tố silic có trong đất mặt trăng, chúng sẽ tiết ra một loại chất polysaccharide trong suốt. Hãy theo dõi sát sao những thay đổi của vùng ánh sáng này và ghi lại đường kính của nó mỗi 6 giờ một lần.”

“Nhận rõ, tôi đã thiết lập lời nhắc để ghi lại dữ liệu định kỳ,” Lưu Xương nói. Anh ta điều chỉnh tiêu cự của camera giám sát và phóng đại hình ảnh các ống nghiệm nhóm A1 lên 10 lần. “Hiện tại, đường kính của vùng ánh sáng là 2,1 milimet; viền của nó rất rõ ràng và không có hiện tượng lan rộng bất thường.”

Vào lúc 15:00 chiều, một sự cố bất ngờ xảy ra: màn hình hiển thị nhiệt độ của buồng nuôi cấy nhóm A2 đột nhiên bắt đầu nhấp nháy, và con số nhiệt độ giảm nhanh từ 15°C xuống còn 12°C. Trương Minh là người đầu tiên phát hiện ra sự bất thường này: “Hồn Nguyệt Hồ, Đội trưởng Lâm, nhiệt độ trong buồng nuôi cấy nhóm A2 bất thường; nhiệt độ đã giảm 3°C trong vòng 10 phút, hiện tại là 11,8°C; hệ thống báo động vì nhiệt độ thấp đã được kích hoạt.”

Lý Tuệ lập tức nhấn nút khẩn cấp trên buồng nuôi cấy, và màn hình hiển thị mã lỗi: “Mã lỗi E03, có vấn đề với mối tiếp xúc giữa mô-đun gia nhiệt. Tiến sĩ Trần Ngọc, liệu chúng ta có cần di chuyển các mẫu vật hay không?”

“Hiện tại thì chưa cần phải di chuyển!” Giọng nói của Trần Ngọc vang lên nhanh chóng. “Loại vi khuẩn chịu được silic này có thể chịu đựng được những biến động nhiệt độ ngắn hạn; hãy thử khởi động lại mô-đun gia nhiệt trước. Anh Trương Minh, hãy làm theo hướng dẫn trong Chương 3, Mục 2 của cuốn sách hướng dẫn khẩn cấp: tắt nguồ

1/1 0%