lore

Chương 4339: Phòng thí nghiệm sáng tạo cho nhân viên nghiên cứu khoa học trẻ

7,303 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

**Phiên bản sửa đổi**

“Đây chính là trung tâm quản lý năng lượng thông minh,” Ngô Hoà chỉ vào bảng điều khiển trung tâm và giải thích, “Hệ thống điều phối mạng lưới điện vi mô mà chúng ta vừa nói đến, phần cốt lõi của nó nằm ở đây.”

“Hệ thống này có thể giám sát đồng thời 2000 điểm năng lượng – từ lượng điện sản sinh ra bởi các tấm pin mặt trời, lượng điện được lưu trữ trong các thùng chứa năng lượng, tải điện tiêu thụ tại cơ sở, cho đến lượng điện sản xuất ra bởi các trang trại gió cách đó vài km – và có thể điều phối chúng một cách thực time.”

Anh nhấp vào giao diện liên quan đến trang trại gió, và trên màn hình hiện lên dữ liệu thời gian thực của hàng chục tuabin gió. Anh tiếp tục giải thích: “Hôm qua có bão cát, tốc độ gió đột ngột tăng từ 8 mét/giây lên 22 mét/giây; với hệ thống điều phối truyền thống, phải mất đến 3 phút mới phản ứng kịp thời, điều này rất dễ gây quá tải cho mạng lưới điện.”

“Hệ thống của chúng tôi sử dụng chip tính toán edge computing; các cảm biến đặt trên đỉnh tuabin gió có thể truyền thông trực tiếp với trung tâm quản lý, và việc điều chỉnh tốc độ tuabin hoàn tất chỉ trong vòng 0,8 giây, giúp kiểm soát biến động lượng điện sản xuất ra bởi trang trại gió trong khoảng 5%.”

Giáo sư Chu đứng dậy, đi đến bảng điều khiển chính và nhìn vào những màn hình trên tường – lượng điện sản sinh ra bởi các tấm pin mặt trời, trạng thái nạp điện của các thiết bị lưu trữ năng lượng, tải điện tiêu thụ của các phòng thí nghiệm… Tất cả những thông tin đó tạo nên một “bản đồ năng lượng” động.

“Điều tuyệt vời nhất ở hệ thống này không phải là bất kỳ linh kiện riêng lẻ nào, mà là khả năng kết hợp nhiều công nghệ lại với nhau một cách hiệu quả.”

Ông chỉ vào những dữ liệu đang chuyển động trên màn hình và tiếp tục nói: “Các tấm pin mặt trời là của các bạn, pin là của các bạn, thuật toán cũng là của các bạn; thậm chí vật liệu dùng để làm ống dẫn nhiệt cũng là của các bạn… Đó mới chính là sự tự chủ và kiểm soát thực sự.”

Ngô Hoà cười và nói: “Giáo sư Chu nói đúng. Trước đây, khi phát triển công nghệ, chúng ta chỉ ‘đóng ghép các bộ phận’ lại với nhau; các linh kiện cốt lõi đều phải nhập khẩu. Nhưng bây giờ, chúng ta đang ‘sản xuất toàn bộ hệ thống’ từ con chip cho đến vỏ ngoài.”

“Giống như hệ thống lưu trữ năng lượng này; nếu thiếu bất kỳ linh kiện nào được sản xuất trong nước, thì hệ thống này sẽ không thể đạt được hiệu suất như hiện tại.”

Phó tổng giám đốc Trương nhìn vào con số “99,99%” thể hiện độ tin cậy của hệ thống cung cấp điện trên màn hình và nói: “Con số này có vẻ đơn giản, nhưng đằng sau nó là hàng

Người ta không chỉ có công nghệ, mà còn có sự quyết tâm áp dụng những công nghệ đó vào thực tiễn chiến đấu.

Hệ thống xe hơi của chúng ta phải được điều chỉnh theo tiêu chuẩn này ngay khi trở về; đừng chỉ quan tâm đến việc các thông số trông đẹp mắt, mà phải đảm bảo hệ thống có thể hoạt động hiệu quả trong sa mạc, trên cao nguyên, và giữa màn đạn bom.”

Trong sổ ghi chép của Lý Triết, đã đầy ắp các bản phác thảo, từ thiết kế cấu trúc mô-đun lưu trữ năng lượng cho đến hệ thống tản nhiệt, tất cả đều kèm theo những ghi chú chi tiết.

“Ông Ngô, Ông Trương,” anh ngước đầu lên với ánh mắt sáng lấp lánh và nói: “Chúng ta có thể thử nghiệm với mười hệ thống trước được không?

Hãy lắp chúng lên những xe tăng mới được trang bị, để chúng hoạt động tại trường tập huấn ở Nội Mông trong ba tháng; sau đó chúng tôi sẽ cung cấp dữ liệu thực tế cho các bạn – biết đâu chúng sẽ giúp các bạn phát hiện ra những vấn đề mà các phòng thí nghiệm không thể tìm ra được.”

Ngô Hoà ngay lập tức gật đầu đồng ý: “Chúng tôi rất mong muốn điều đó. Chúng tôi đang rất cần dữ liệu thu thập trong môi trường thực chiến; địa hình mà những xe tăng của các bạn đi qua phức tạp hơn nhiều so với các trường tập huấn của chúng tôi.

Sau này, chúng tôi sẽ cử nhóm kỹ thuật liên hệ với các bạn để xây dựng một kế hoạch phù hợp, đảm bảo rằng chúng có thể được lắp đặt trên xe vào tháng tới.”

Đồng hồ trên màn hình chỉ 3 giờ chiều; hệ thống lưới điện thông minh đột nhiên phát ra tiếng bíp nhẹ, biểu thị rằng mức năng lượng trong các mô-đun lưu trữ đã đạt 95%, và hệ thống tự động chuyển sang chế độ nạp điện ổn định.

Giáo sư Chu nhìn vào đường cong mượt mà trên màn hình và nói: “Trước đây, mọi người thường nói đến ‘việc tìm nguồn năng lượng mới và tiết kiệm năng lượng’, nhưng các bạn không chỉ làm được điều đó (sử dụng năng lượng mặt trời và gió), mà còn biết cách tận dụng triệt để ‘năng lượng dư thừa’ (lưu trữ năng lượng) cho những mục đích quan trọng như khẩu pháo điện từ.

Lối suy nghĩ này không chỉ có thể áp dụng cho quân đội, mà còn có thể trở thành một mô hình cho chiến lược năng lượng quốc gia.”

Ngô Hoà nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi những tấm pin mặt trời kéo dài đến tận chân trời; ánh nắng mặt trời tràn ngập những tấm pin màu xanh lam, tạo nên một cảnh tượng yên bình như một biển cả tĩnh lặng.

“Thực ra, lý do rất đơn giản,” anh nói, giọng nói không to nhưng rõ ràng, “dù là để bảo vệ tổ quốc hay phát triển kinh tế, cuối cùng tất cả đều phải dựa trên ‘sự

Ngô Hoà hiểu ý của ông ấy: “Giáo sư Chu, chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Pháo điện từ được thiết kế để bảo vệ tổ quốc, còn các tấm pin năng lượng mặt trời và pin lưu trữ năng lượng thì giúp đất nước phát triển tốt hơn. Cả hai đều rất quan trọng.”

“Ừm, tốt là bạn đã hiểu.” Giáo sư Chu vỗ vai anh ấy và nở nụ cười mãn nguyện.

Xe đưa đoàn tiếp tục di chuyển trong khu công nghiệp, và họ nhìn thấy hệ thống tưới tiêu thông minh bên đường đang hoạt động; những luồng nước phun ra từ các đầu phun xoay tạo nên những tia sáng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời, nuôi dưỡng những cây Sa Đá Vượng mới mọc.

Phó tổng giám đốc Trương mở cửa sổ, hít vào mùi cỏ xanh và đất ẩm ướt, không khỏi cười nói: “Nơi này chẳng giống sa mạc chút nào; thậm chí còn thoải mái hơn khu vực thành phố cũ tôi sống nữa.”

“Ông nói đúng đấy.” Ngô Hoà chỉ về phía trạm khí tượng xa xôi và nói: “Chúng tôi đã đo được rằng độ ẩm không khí tại đây cao hơn 18% so với khu vực sa mạc xung quanh; nhiệt độ trung bình vào mùa hè thì thấp hơn 5°C. Những năm gần đây, do có nhiều cây được trồng, lượng bụi cát cũng giảm đi khoảng 30%.”

Anh ta dừng lại một chút, rồi đưa cho mọi người bảng lịch trình: “Tiếp theo, chúng ta sẽ đến Phòng thí nghiệm Sinh học Môi trường cực đoan và Xưởng Sáng tạo Trẻ em.”

“Ồ, nghe đến hai nơi này, mọi người đều bày tỏ sự hứng thú.”

Xe đưa đoàn di chuyển khoảng mười mấy phút, cuối cùng dừng lại trước một tòa nhà màu trắng tinh khôi; những tấm kính lớn được lắp đặt khắp các bức tường, ánh nắng mặt trời chiếu qua kính, tạo nên những vệt sáng nhỏ trên mặt đất.

Trên màn hình điện tử ở cửa có dòng chữ: “Kho Tài nguyên Sinh học Môi trường cực đoan · Trung tâm Thí nghiệm Mô phỏng”.

“Nhìn bề ngoài thì nó không giống một phòng thí nghiệm lắm; giống hơn là một căn cứ trong phim khoa học viễn tưởng.” Phó tổng giám đốc Trương bước xuống xe, ngước nhìn ngôi nhà được thiết kế độc đáo này cùng những tấm kính lớn trên tường, không khỏi nói.

Ngô Hoà cười và giải thích: “Dù bề ngoài có vẻ đơn giản, nhưng bên trong thì rất hiện đại. Nơi đây mô phỏng 17 loại môi trường cực đoan trên toàn thế giới – từ lớp băng Nam Cực với nhiệt độ âm 58°C, đến suối nước nóng có độ axit cao (pH=0,5), cho đến hồ muối có hàm lượng muối lên đến 30%, thậm chí còn có buồng thử nghiệm áp suất cao mô phỏng môi trường đại dương sâu.”

“Các vi sinh vật mà chú

1/1 0%