lore

Chương 5: Bước vào phòng thi

13,673 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lục Triển nói không hài lòng: “Anh ta chỉ là người thông minh nhanh trí mà thôi, còn xa mới đạt tới trình độ nhớ mọi thứ ngay lập tức; điều đó chỉ có thể xảy ra khi anh ta trở thành tiến sĩ thôi. Hơn nữa, Giang Châu quản lý chín phủ, trong đó Đại Nguyên Phủ và Văn Viện chỉ là một số phủ mà thôi. Nếu anh ta thực sự là một thiên tài, thì ông Lý Đại học sĩ – ‘viện quân’ của Châu Văn Viện chắc chắn sẽ chiếu cố để anh ta nhập học tại Châu Văn Viện, và học cùng với những người xuất sắc nhất trong bang! Các bạn nghĩ điều đó có thể xảy ra không? Ông Lý Đại học sĩ cũng là một quan chức cấp ba, ngang hàng với thống đốc bang; thậm chí còn cao cấp hơn nữa, có trách nhiệm giáo dục cho hàng chục triệu người trong bang. Nếu không có sự chấp thuận của ông ấy, ai cũng không xứng đáng được gọi là thiên tài!”

Mọi người đều cười thầm; năm ngoái, Phương Trung Vĩnh đã đến thị trấn Lục gia, và đúng lúc đó thị trấn đang tổ chức một buổi thi thơ nhỏ. Kết quả là Phương Lễ đã yêu cầu Phương Trung Vĩnh tham gia viết thơ tại buổi thi, và anh ta đã vượt trội so với tất cả những người tham gia, khiến các học sinh ở thị trấn Lục gia cảm thấy xấu hổ. Lục Triển cũng có mặt tại buổi thi đó, và không ít lần anh ta không công nhận Phương Trung Vĩnh.

Lương Viễn nói khẽ: “Lời nói của Lục Triển cũng có lý; Phương Trung Vĩnh vẫn còn quá trẻ, bài thơ hay nhất của anh ta cũng chỉ đạt tới trình độ ‘vượt qua ranh giới huyện’, chưa đến mức ‘đạt tới cấp phủ’. Nhưng nếu kiên trì, có lẽ anh ta sẽ đạt được những thành tựu lớn hơn.”

Lục Triển tiếp tục nói: “Đúng vậy! Ít nhất thì anh ta cũng cần có một bài thơ vượt qua cấp phủ và đạt tới trình độ ‘nổi tiếng trong bang’ thì mới có thể được coi là thiên tài. Còn những đỉnh cao như ‘bảo vệ đất nước’ hay cao hơn nữa… thì đó không phải là điều chúng ta có thể bàn luận được.”

Huyện, phủ, bang, quốc… từng cấp độ lại lớn hơn cấp độ trước; đây là hệ thống phân chia hành chính thông dụng trên lục địa Thánh Nguyên.

Cát Tiểu Mao nói khẽ: “Thực ra, chỉ cần có thể viết được thơ vượt qua ranh giới huyện cũng đã rất tốt rồi; nhiều người học giỏi suốt đời cũng không thể làm được điều đó. Ngay cả những người đỗ cử nhân mà có thể viết được thơ vượt qua ranh giới huyện, cũng đủ để tổ chức một bữa tiệc ăn mừng rồi.”

Lu Lâm, người vẫn chưa nói gì, bỗng nói một cách nghiêm túc: “Người man rợ đang gây rối loạn; Quốc Khánh đang theo dõi sát sao tình hình. Thay vì tranh đấu vì danh vọng, chúng ta nên su

“Ài, các cuộc chiến giữa quân biên giới và bọn man rợ thường xuyên thất bại, nhưng một số kẻ lại vì lợi ích cá nhân mà phớt lờ nguy cơ đe dọa đối với đất nước! Nếu tôi thi đỗ thành tiến sĩ, chắc chắn tôi sẽ gia nhập quân đội, không phải để phục vụ triều đình, mà chỉ vì Người Loài Chúng Ta nhân dân!”

Lời nói của Lưu Lâm tràn đầy hứng khởi và nhiệt huyết; xung quanh im lặng hoàn toàn, ngoại trừ một vài người chế giễu, đa số mọi người đều tỏ ra ngưỡng mộ anh ta.

Trên lục địa Thánh Nguyên có ba bộ lạc man rợ, gồm bọn Man Rợ Cỏ, Man Rợ Cát và Man Rợ Rừng; mỗi bộ lạc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau, như Man Rợ Sói, Man Rợ Hổ… Người ta tin rằng họ là hậu duệ lai giữa yêu tinh và con người.

Phương Vận nhìn Lưu Lâm kỹ lưỡng; anh ta có đôi lông mày dày, đôi mắt to, khuôn mặt vuông vức. Anh này cũng là người có tính cách chính trực nhất trong trường học tư thục. Khi Phương Vận mới vào học, từng có người bắt nạt anh, may mắn thay Lưu Lâm đã giúp đỡ anh.

Trong năm người đó, mặc dù Lưu Lâm không nói nhiều, nhưng anh lại được mọi người tôn trọng nhất.

Tuy nhiên, ngay cả anh ta cũng không dám công khai mắng Tả Tướng hay Liễu Sơn.

Sau khi nói xong, Lưu Lâm nhìn về phía Phương Vận.

Phương Vận bất ngờ và nhận ra mình vừa mắc sai lầm. Trước đây, dù không chính trực bằng Lưu Lâm, nhưng vì gia đình nghèo khó, Phương Vận hiểu rõ nỗi khổ của con người và luôn mong muốn thi đỗ để phục vụ đất nước; anh ta là một người ủng hộ việc chiến tranh mạnh mẽ.

Ngay lập tức, Phương Vận nói: “Lưu Lâm nói đúng, đàn ông thực sự nên có ước mơ chiến đấu trên chiến trường, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho tổ quốc!”

Lưu Lâm tỏ ra đồng tình, còn Lương Viễn thì cười nói: “Phương Vận, kỹ năng nịnh hót của em ngày càng giỏi rồi đấy.”

Những người khác cũng cười nhẹ.

Mọi người vừa trò chuyện vừa tiếp tục đi theo đoàn. Phương Vận ít nói, anh ta chỉ tập trung suy nghĩ về những điều vừa nghe được.

Khi đến cửa Văn Viện, hai binh sĩ với vẻ mặt lạnh lùng đang đứng đó; một người trong số họ yêu cầu Phương Vận Thân xuất trình thẻ thi và giấy tờ tùy thân.

Lương Viễn đưa chiếc cặp sách cho Phương Vận; anh mở cặp ra, lấy thẻ thi và giấy tờ tùy thân đưa cho một binh sĩ, sau đó đưa chiếc cặp lại cho người kia.

Người lính bên phải nhận lấy chiếc hòm sách và xem qua; bên trong có bút lông, than mực, đá mài mực, hộp đựng bút, giá đỡ bút, vật dụng dùng để cố định giấy khi viết, ống tre đựng nước, gói bánh ngọt… Người lính gật đầu rồi trả lại chiếc hòm cho Phương Vận.

Người lính bên trái nhìn vào tấm thẻ thi và giấy tờ tùy thân; trên đó có hình vẽ khuôn mặt của Phương Vận khi ông ta nộp đơn thi, cùng với thông tin mô tả về dáng vẻ và ngoại hình của ông ta. Sau khi so sánh với hình vẽ trên giấy tờ, ánh mắt người lính dừng lại ở tấm vải băng quanh đầu Phương Vận.

“Chuyện gì vậy? Anh chính là người đã đi xe bò đến đây sao?” Người lính hỏi một cách nghiêm túc.

Phương Vận trả lời: “Tối qua, tôi bị bốn kẻ có giọng nói kiểu Đại Nguyên Phủ tấn công; may mắn thay tôi sống sót được. Người băng bó vết thương cho tôi là bác sĩ Lý thuộc Viện Y Tế Từ Thiện; ông ấy có thể làm chứng cho tôi.”

Người lính gật đầu và nói: “Mỗi kỳ thi khoa cử, luôn có ba vị cao quý giám sát cuộc thi; không ai có thể che giấu được sự soi xét của họ. Anh biết hậu quả của việc lừa dối họ chứ?”

“Tôi hiểu.”

Người lính trả lại tấm thẻ thi và giấy tờ cho Phương Vận, sau đó cho phép ông ta vào bên trong.

Lúc này, bạn bè của Phương Vận mới biết rằng anh ta đã bị người khác đánh; họ rất tức giận, nhưng ở đây là Văn Viện, họ không dám lên tiếng, chỉ có thể kìm nén sự giận dữ trong lòng mình.

Sau cổng chính, quảng trường rất rộng lớn; Phương Vận ngẩng đầu lên và thấy bầu trời phía trước xanh biếc, không một đám mây. Khu vực trời xanh này có hình dạng bất định, còn phía ngoài thì u ám, mưa vẫn đang rơi; có vẻ như một sức mạnh hùng vĩ đang xua tan những đám mây để đảm bảo cuộc thi diễn ra suôn sẻ.

Khi hai nghìn thí sinh đều đã vào đền thờ, họ cùng nhau đi đến phía trước đền thờ. Hai bên họ đứng đầy binh sĩ và viên chức; phía trước là các quan chức địa phương, và ở hàng đầu là ba vị giám khảo kỳ thi: huyện lệnh, Huyện Văn Viện – người đứng đầu viện học, và Phủ Văn Viện – người phụ trách việc giáo dục.

Trên lục địa Thần Nguyên, “Văn Viện” là một hệ thống vô cùng quan trọng; cùng với quân đội và giới chính trị, nó được coi là ba hệ thống lớn nhất của các quốc gia. Hệ thống này có nhiệm vụ giáo dục mọi người, tổ chức các kỳ thi khoa cử, và cũng là những trường học tốt nhất. Khi có cuộc chiến với những kẻ man rợ, giáo viên và học sinh của Văn Viện sẽ lập tức đến chiến trường.

Ở cấp huyện hoặc phủ, địa vị của các vị quan loại “viện quân” thường thấp hơn so với huyện lệnh hoặc tri phủ; tuy nhiên, ở các châu, về mặt chức vụ thì viện quân ngang hàng với châu mục, còn về mặt Văn Vị thì thường cao hơn, và địa vị tổng thể cũng vượt trội hơn so với châu mục.

Quốc Văn Viện còn được gọi là “học cung”; người quản lý học cung chắc chắn phải là một trong bốn đại thần trong nội các, được gọi là “Văn Tướng”, hay còn được gọi là “đại phu tử”. Bởi vì chỉ có một người duy nhất có đủ tư cách được gọi là “phu tử”, đó chính là Khổng Tử – người được coi là bậc thầy của thiên hạ.

Người thực sự quản lý tất cả các học cung Văn Viện chỉ có một mình Khổng Tử; dù là viện quân hay Văn Tướng thì cũng chỉ đơn giản là người thay mặt Khổng Tử để quản lý các học cung này mà thôi.

Văn Viện là nơi các bậc thánh nhân giảng đạo; trong khi đó, các cơ quan chính quyền khác chỉ là một phần của triều đình quốc gia mà thôi. Trong lòng nhiều người học giả, địa vị của Văn Viện cao hơn nhiều.

Trước ba vị giám khảo, có một cái lò hương bằng đồng cao khoảng nửa người; ba que hương to đang phun ra khói xanh.

Phía trước lò hương là đền thờ Thánh Nhân, với tường đỏ, mái đen, cổng đỏ và cột đỏ.

Bên trong cùng là bức tượng đứng của Khổng Tử; dưới bức tượng này là các bức tượng nhỏ hơn của sáu vị tiên thánh, bao gồm Châu Văn Vương, Mạnh Tử, Tần Tử, Tăng Tử, Tư Tử và Nhan Tử.

Dưới hai bức tượng tiên thánh này, còn có hàng chục tấm bia danh dự của các vị bán thánh.

Phương Vận nhìn đền thờ Thánh Nhân với vẻ kinh ngạc; anh ta có thể cảm nhận rõ ràng một nguồn năng lượng vật chất nhưng vô hình đang tỏa ra từ công trình này – một sức mạnh uy nghi như núi non, rộng lớn như biển cả.

“Chắc hẳn đó chính là nguồn tài năng ẩn chứa trong đền thờ Thánh Nhân, cũng chính là nguồn sức mạnh có thể xua tan những đám mây u ám.” Phương Vận suy nghĩ.

Huyện lệnh hét lớn: “Cúi chào Thánh Nhân!”

Tất cả mọi người đều cúi đầu chào hỏi.

Viện quân huyện hét lớn: “Cúi chào các vị tiên thánh!”

Mọi người lại cúi đầu một lần nữa.

“Cúi chào tất cả các vị thánh!” Người đứng đầu học cung phủ hét lớn.

Mọi người cúi đầu lần thứ ba.

Tiếp theo, quan huyện đọc bài văn “Tế Tất Cả Các Thánh”.

Phương Vận Tôi nhớ rằng bài văn này ban đầu do bậc Thánh Bán được soạn thảo; trong đó liệt kê tên của mỗi vị Thánh cùng một câu tóm tắt về họ. Sau khi bậc Thánh Bán qua đời, người cháu trực hệ của Khổng Tử – tức “Danh Nhân Diễn Thánh” – đã bổ sung thêm nội dung vào đó.

Sau đó, giáo viên phụ trách kỳ thi công bố các quy định liên quan đến buổi thi.

Cuối cùng, quan huyện tuyên bố bắt đầu kỳ thi. Các thí sinh, dưới sự hướng dẫn của các quan viên, tiến vào phòng thi theo số hiệu trên phiếu thi của mình.

Phương Vận Tôi nhìn kỹ vào phiếu thi của mình; trên đó ghi rõ “Địa Đinh Thần Tam”, sau đó tôi mang theo cặp sách và bắt đầu tìm chỗ ngồi.

Các phòng thi được xây dựng thành từng hàng nhỏ, con đường giữa hai hàng đủ rộng để hai chiếc xe ngựa có thể đi song song.

Phòng thi hướng từ bắc xuống nam; chiều cao của căn phòng chưa đầy một trượng; nếu đứng bên trong và dang rộng hai tay ra, bạn sẽ chạm vào hai bức tường ở hai bên. Phòng thi rất hẹp. Bên trong chỉ có một cái bàn, một chiếc ghế và một cái bồn cầu; trên bàn có một chén nước sạch dùng để rửa bút, ngoài ra không có gì khác.

Phương Vận Tìm đến phòng thi của mình, tôi đứng ở cửa và nhìn vào bên trong. Một khi đã bắt đầu làm bài, dù xảy ra chuyện gì đi nữa, việc rời khỏi phòng thi cũng đồng nghĩa với việc kỳ thi đã kết thúc, và bạn không được phép quay lại phòng thi nữa.

Phương Vận Tôi không khỏi nắm chặt đôi tay lại và bước vào phòng thi.

“Tôi chắc chắn sẽ làm được!” Tôi tự nhủ trong lòng một cách kiên định.

Tôi ngồi yên lặng, ngẩng đầu nhìn lên bầu trời; do mái nhà che khuất, tôi chỉ có thể nhìn thấy một nửa mặt trời. Ánh nắng bên trong phòng thi trở nên dịu nhẹ đặc biệt; ngay cả khi nhìn thẳng vào mặt trời, tôi cũng không cảm thấy khó chịu chút nào.

Nhớ đến không khí tràn đầy tài năng tại đền thờ Thánh, tôi càng khao khát được sử dụng sức mạnh huyền bí này hơn.

Tiếng xe ngựa vang lên từ phía đông, ngày càng gần hơn. Không lâu sau, một chiếc xe ngựa từ từ xuất hiện trước phòng thi; một người bước xuống xe và đưa cho tôi một xấp giấy có màu vàng nhạt.

Phương Vận Tôi đứng dậy, nhận lấy bài thi và nói: “Xin cảm ơn.”

Người phát đề gật đầu một cái, nhìn về phía Phương Vận rồi tiếp tục phát đề cho thí sinh kế tiếp.

Phương Vận đặt bài thi xuống bàn và ngồi xuống, nhìn vào tờ giấy thi vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, anh cười khổ một cách kỳ lạ.

“Dù đã đến thế giới khác, vẫn không tránh khỏi việc phải thi cử… Kiếp trước tôi không phải là học sinh giỏi, hy vọng kiếp này sẽ không trở thành kẻ yếu kém.”

Phương Vận nghĩ trong lòng, nhưng không vội vàng bắt đầu làm bài ngay, mà trước hết anh xem qua nội dung đề thi.

Anh từng đọc một câu chuyện về những người tham gia kỳ thi với số lượng câu hỏi rất nhiều, nhưng chỉ có thời gian 10 phút để trả lời; nhiều người vội vàng bắt đầu làm bài, hy vọng có thể viết được càng nhiều càng tốt.

Tuy nhiên, ở cuối đề thi lại có ghi rõ: Chỉ cần trả lời câu hỏi cuối cùng thôi.

Sau khi đọc câu chuyện đó, mỗi lần thi cử, Phương Vận đều kiểm tra từng tờ giấy thi kỹ lưỡng, không phải để xem câu hỏi cuối cùng, mà là để đảm bảo rằng không có tờ giấy nào bị hỏng hoặc thiếu sót thông tin.

Có một lần, trong kỳ thi, Phương Vận Phát phát hiện ra tờ giấy thi thứ hai có vấn đề, nên đã yêu cầu giáo viên thay thế tờ giấy đó ngay lập tức; nếu đợi đến khi hoàn thành tờ giấy đầu tiên mới thay thế, sẽ mất rất nhiều thời gian.

Một lần nhận được kết quả tốt như vậy, Phương Vận liền hình thành thói quen này.

Tờ giấy thi này lớn hơn so với những tờ giấy thi trước đây của anh; tổng cộng có 40 trang, trong đó 30 trang in đầy các câu hỏi thi, còn 10 trang còn lại là trắng; nếu tờ giấy thi đầu tiên có vấn đề, thí sinh có thể tự mình sao chép toàn bộ nội dung của tờ giấy đó lại.

Chất lượng giấy và công tác in ấn rất tốt, chỉ kém hơn mức độ của Trái Đất vài chục năm mà thôi; Phương Vận không hề ngạc nhiên, bởi đây là thế giới của những người tài năng; nếu như thiếu sót trong những khía cạnh cơ bản như bút, mực, giấy, mực in, thì họ đã sớm bị loại bỏ rồi.

Sau khi xem qua nhanh, Phương Vận đã hiểu được phần lớn nội dung đề thi.

Ba trang đầu tiên của đề thi là những câu hỏi về cuộc đời hoặc những công trạng của các vị Thánh; trong đó, thông tin về Thánh Khổng Tử và sáu vị Á Thánh là những câu hỏi bắt buộc phải trả lời. Có vẻ như những câu hỏi này khá đơn giản, nhưng câu trả lời phải được lấy trực tiếp từ các văn bản kinh điển của các vị Thánh, không được dùng lời của bản thân mình để trả lời, nếu không thì sẽ không được coi là trả lời đúng ý nghĩa của lời dạy của các vị Thánh.

Tiếp theo là ba trang với nh

1/1 0%