lore

Chương 466: Dấu vết của nước rò rỉ từ mái nhà

13,140 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Vào khoảnh khắc Phương Vận vẽ nét đầu tiên của chữ “Vĩnh”, đầu bút phát ra tiếng vang nhẹ như tiếng roi vung qua không khí.

Ánh mắt Nguyễn Dục trở nên chăm chú hơn; điều quan trọng nhất trong việc vẽ nét này là “phải vẽ nhanh”, tức là phải sử dụng lực vẽ mạnh và thẳng từ bên cạnh. Nếu tốc độ vẽ không đủ nhanh, đỉnh nét sẽ không đủ sắc bén, và điều đó sẽ không được coi là vẽ bằng lực từ bên cạnh.

Nguyễn Dục nắm chặt cây bút bằng tay phải; cách vẽ của Phương Vận đã vượt xa mức “nhanh”, mà đã đạt đến mức “nguy hiểm”. Tốc độ nhanh có thể luyện tập được, nhưng sự nguy hiểm thì không thể chỉ thông qua luyện tập mà đạt được được; người ta cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật thư pháp.

“Lực vẽ từ bên cạnh phải thật nguy hiểm…” Nguyễn Dục không khỏi thầm thốt. Đây chính là một trình độ mà rất nhiều họa sĩ thư pháp mơ ước.

Sau khi vẽ nét này với tốc độ và độ nguy hiểm khó tin, một vệt mực bỗng xuất hiện giữa không trung. Sau đó, khi Phương Vận tiếp tục vẽ phần còn lại của chữ “Vĩnh”, tốc độ của anh ta bắt đầu chậm lại.

Nguyễn Dục bỗng có cảm giác ảo giác rằng đầu bút trong tay Phương Vận đã biến thành một ngọn núi cao vút, đỉnh núi ấy xâm sâu vào lòng đất và tạo ra một con sông.

Nơi nào đỉnh núi này đi qua, nước trong liền bùng lên; dưới bút của anh ta, con sông hiện ra.

Nét “điểm” của chữ “Vĩnh” gồm bốn giai đoạn biến đổi; chỉ một nét nhỏ bé này, sau bốn lần thay đổi hướng, cuối cùng khi Phương Vận dừng lại, trước mắt Nguyễn Dục, ngọn núi ấy bỗng dừng lại và đứng thẳng giữa mây trời, uy nghiêm trên mặt đất.

Trong tám nguyên tắc vẽ chữ “Vĩnh”, nét “điểm” có hai yếu tố then chốt: thứ nhất là phải vẽ nhanh, thứ hai là phải kết thúc nét một cách đầy đủ. Một nét nhỏ bé như vậy có vẻ như không quan trọng lắm, nhưng lại chính là khởi đầu và cũng là điểm cao nhất của chữ “Vĩnh”. Chỉ có vẽ nhanh thôi là chưa đủ; để tạo nên sự hoàn hảo cho toàn bộ chữ, điều kiện tiên quyết là phải kết thúc nét một cách đầy đủ.

Nếu nét này không được kết thúc đầy đủ, sức mạnh của nét đó sẽ không đủ, và các nét tiếp theo sẽ trở nên thiếu sự liên kết, giống như việc đổ một chậu nước ra ngoài, khiến ý nghĩa của nét vẽ bị gián đoạn.

Nhưng nét “điểm” của Phương Vận thì giống như ngọn núi vững chãi kia, sự kết thúc của nét đó thật đầy đủ và hoàn hảo, thể hiện rõ phong cách của một bậc thầy.

Nguyễn Dục cảm thấy một nỗi sợ hãi khó hiểu xuất hiện trong lòng. Bởi vì dù kỹ thuật viết của Phương Vận có thể chưa bằng các bậc thầy thư pháp ở cấp độ hai hay ba, nhưng sự táo bạo trong cách vận dụng bút và sự trọn vẹn trong từng nét chữ đã tiết lộ tiềm năng vô cùng lớn của anh ta. Bất kỳ người thư pháp có kinh nghiệm nào nhìn thấy quá trình viết của Phương Vận lúc này chắc chắn sẽ phải thốt lên rằng anh ta có tiềm năng đạt đến cấp độ bốn!

“Ai đã chỉ dẫn cho Phương Vận con đường thư pháp này! Khi tôi nhìn anh ấy viết, tôi thực sự cảm thấy như thể những nét bút ấy mang theo sức mạnh của mùa xuân và mùa thu, ý tưởng thì vượt qua hàng ngàn năm… Thầy của anh ấy rốt cuộc là ai? Tôi chưa bao giờ thấy kiểu kỹ thuật viết như thế này trước đây! Chẳng lẽ đó là do một bậc thầy ở cấp độ bốn hoặc thậm chí năm đã có những hiểu biết mới và cố tình rèn luyện cho Phương Vận phong cách viết này sao?”

Nguyễn Dục vội vàng chớp mắt lại, và lập tức thấy Phương Vận đã bắt đầu viết nét ngang. Không nhìn thì không sao, nhưng khi nhìn vào, trái tim Nguyễn Dục lại se lại.

Nét điểm của chữ “Vĩnh” phải đủ mạnh, nét ngang phải được thực hiện một cách chuẩn xác; giống như người cưỡi ngựa điều khiển con ngựa hung dữ, phải giữ nguyên ý tưởng trong từng nét chữ. Nếu không làm được điều đó, nét ngang sẽ trở nên lung tung, mất đi sự vững chắc vốn có.

Phương Vận đã sử dụng toàn bộ sức mạnh từ nét chữ trước để bắt đầu nét ngang này; bắt đầu bằng đầu bút ngược, sau đó di chuyển bằng đầu bút thẳng, thể hiện rõ tinh hoa của yếu tố “vững chắc”. Nét ngang này nặng nề và sâu thẳm, như thể một nét bút duy nhất có thể đè chặt cả một ngôi nhà.

Nguyễn Dục không nhịn được mà thì thầm: “Nét ngang này bắt đầu như việc mở đường qua núi non, di chuyển một cách vững vàng và mạnh mẽ, đồng thời còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc… Giống như một khúc gỗ tròn được đặt ngang qua con đường, một nét bút đã đóng kín phía trước… Những biến đổi trong nét bút, như những đám mây bay lượn trên bầu trời hay những con chim bay qua khu rừng rậm… Thật là kỳ diệu! Làm sao một đứa trẻ nhỏ như anh ấy có thể viết ra được điều này!”

“Có phải đó là ‘dấu vết của nơi nhà bị thấm nước’ không?” Phương Vận vừa viết vừa từ từ nhắc đến lời của Yan Zhenqing – bậc thầy thư pháp vĩ đại.

Nguyễn Dục bất ngờ ngớ người, rồi vỗ tay cười lớn: “Đúng rồi! Đúng rồi! Đúng r

Nhưng tình cảm hối tiếc bất ngờ ấy nhanh chóng biến mất, thay vào đó là ánh mắt quyết tâm hơn bao giờ hết.

Nguyễn Dục nhìn Phương Vận bắt đầu viết, từ từ nói: “Dù chữ của em rất đẹp, nhưng chưa chắc đã có thể phá vỡ được chữ ‘Vĩnh’ của ta!”

Phương Vận dừng bút, và chữ “Vĩnh” hoàn chỉnh hiện lên giữa không trung. Giống như chữ của Nguyễn Dục, ban đầu các nét của chữ trông nhỏ bé như con ruồi, sau đó lại uốn lượn như con giun đất; tám nét gồm điểm, ngang, dọc, móc, nâng, lệch, lệch ngắn và hạ lập tức tách ra, uốn lượn như con giun đất, rồi lại hợp lại thành một.

Khi thấy chữ “Vĩnh” hoàn chỉnh của Phương Vận, thân hình của Nguyễn Dục bỗng nhiên rung chuyển; sau đó, chữ “Vĩnh” của Phương Vận như một con thuyền lớn lao xuôi theo dòng nước, vượt qua sóng gió với tiếng vang dội.

Chữ “Vĩnh” của Nguyễn Dục đối đầu với nó, với sức mạnh hùng vĩ như dòng sông cuồn cuộn… Nhưng Nguyễn Dục lại cảm thấy lo lắng.

Khi hai chữ “Vĩnh” gặp nhau, chữ “Vĩnh” của Phương Vận bỗng nhiên trở nên mạnh mẽ như cái búa đập vào vải, hay như mái chèo đẩy thuyền; một tiếng nổ lớn vang lên, và chữ “Vĩnh” ấy xuyên qua chữ “Vĩnh” của Nguyễn Dục, lao về phía trước với sức mạnh không ai sánh kịp.

Một lực lượng vô hình hình thành xung quanh chữ “Vĩnh” của Phương Vận; Nguyễn Dục như bị đánh mạnh, thân hình bị đẩy lùi, rời khỏi trang giấy trắng đầu tiên và đứng trên trang giấy trắng thứ hai.

Sau đó, trang giấy đầu tiên bay lên, và chữ “Vĩnh” của Phương Vận chính xác đậu trên đó, hóa thành những dòng chữ đen trên nền trắng.

Tiếp theo, trang giấy nhẹ nhàng rung lên, và bỗng nhiên biến thành một tấm bia đá cao ba trượng, trên đó khắc chữ “Vĩnh” của Phương Vận; sau đó, tấm bia đá di chuyển sang một bên, nhường chỗ cho hai người.

Nguyễn Dục im lặng, ngây người nhìn tấm bia đá ấy.

Đây quả thật là một kiệt tác thư pháp! Thông thường, chỉ những học sinh đạt đến cấp độ chín trong Học Viện Mực Kiếm mới có thể tạo ra những kiệt tác như thế này… Điều này chính là lời khen ngợi cao cả dành cho trình độ thư pháp của một người.

“Thật xứng đáng là Phương Chấn Quốc, thật xứng đáng là dòng sông Ngộ Đạo! Về kỹ thuật viết chữ, tôi không bằng ngài, nhưng về ý nghĩa của từng chữ và tổng thể bài viết, tôi tin mình có thể vượt trội hơn ngài! Tôi biết rõ tài năng của mình có hạn, không thể viết ra những câu nói nổi tiếng, vì vậy tôi xin dùng lời khen ngợi mà đại học giả Yuan Ang đã dành cho tổ tiên nhà họ Wei của mình để tranh luận với ngài về nghệ thuật viết chữ!”

Phương Vận nói: “Mặc dù ngài không nói cụ thể là câu nói nào, nhưng khi nhắc đến đại học giả Yuan Ang, tôi có thể đoán được… Không ngờ rằng người họa sĩ chữ nổi tiếng thời Tam Quốc – Wei Dan – lại chính là tổ tiên của ngài. Xin mời ngài tiếp tục!”

Nguyễn Dục gật đầu nhẹ, rồi cầm bút viết trên không khí:

“Long uy hổ chấn, kiếm bạch nỏ giương.”

Khi viết xong, tám chữ này bỗng nhiên co giãn nhẹ, nhưng ngay sau đó lại trở về hình dạng ban đầu.

Phương Vận quan sát kỹ lưỡng: Chữ “long” toát lên vẻ oai nghiêm, chữ “hổ” tràn đầy sức mạnh, chữ “kiếm” như một thanh kiếm sắc bén vừa rút ra khỏi vỏ, còn chữ “nỏ” giống như một cây nỏ đang sẵn sàng phóng đạn.

Chỉ là tám chữ thông thường, nhưng dưới bút của Nguyễn Dục, chúng dường như có thể hóa thành hiện thực bất cứ lúc nào.

Phương Vận gật đầu và nói: “Sự hiểu biết của ngài về những chữ này thật sự xuất chúng; cả về ý nghĩa từng chữ lẫn tổng thể bài viết, ngài đều vượt xa sự tưởng tượng của tôi. Thật đáng tiếc… Lúc này trong lòng ngài không hề có sức mạnh của rồng, hổ, kiếm hay nỏ; vì vậy, làm sao ngài có thể vượt trội hơn tôi được?”

“Xin ngài chỉ giáo!” Nguyễn Dục cúi đầu chào mời.

Phương Vận cũng cầm bút và viết trên không khí:

“Cách viết chữ thay đổi theo thời gian, nhưng kỹ thuật sử dụng bút thì mãi mãi không đổi.”

Nguyễn Dục suy ngẫm kỹ lưỡng: Câu này có nghĩa là cấu trúc, kiểu dáng và phong cách của chữ viết có thay đổi theo thời đại, nhưng cách sử dụng bút lông thì vẫn giữ nguyên.

Nhưng chưa kịp hiểu hết ý nghĩa của câu này, tám chữ “Long uy hổ chấn, kiếm bạch nỏ giương” do Nguyễn Dục viết đã bắt đầu héo úa như cỏ dại khô cằn, dòng sông cạn kiệt; mực dùng để viết những chữ đó cũng bắt đầu co lại, cuối cùng biến thành tám chữ méo mó, không còn hình dạng gì nữa.

“Ngài… Điều này có nghĩa là ý nghĩa của bài viết này vượt xa tài năng của tổ tiên tôi; ngay cả sức mạnh mà đại học giả đã khen ngợi tổ tiên tôi c

Làm sao có thể! Phụt… Nguyễn Dục không thể kiềm chế được nữa, một ngụm máu tươi bắn ra từ miệng hắn.

Phương Vận im lặng không nói gì, còn Hoa Hạ Cổ Quốc trong lịch sử đã công nhận có bốn bậc thầy về thư pháp chính thức, đó là Ouyang Xun, Yan Zhenqing, Liu Gongquan và Zhao Mengfu; mỗi người họ đều tạo ra một loại thư pháp riêng biệt.

Những dòng chữ mà Phương Vận viết ra chính là lời của Zhao Mengfu – một trong bốn bậc thầy kia.

Thời Đường, Trung Quốc sản sinh ra rất nhiều tài năng văn hóa, như Mǐ Fú, Huang Tingjian, Su Shi và Cái Xiang – được coi là bốn bậc thầy thư pháp của triều đại này; nhưng người cuối cùng được xếp ngang hàng với ba nhà thư pháp xuất sắc nhất thời Đường, lại chính là Zhao Mengfu.

Phương Vận không chỉ trích dẫn đúng lời của Zhao Mengfu mà còn viết bằng phong cách thư pháp do chính Zhao Mengfu sáng tạo ra; dù là ý nghĩa của văn bản hay ý nghĩa của từng chữ, thì không chỉ Nguyễn Dục mà ngay cả tổ tiên của Nguyễn Dục – người đã đạt đến tầm cao trong nghệ thuật thư pháp – cũng không thể sánh kịp.

Nguyễn Dục đang muốn hỏi thêm, bỗng nhiên đôi mắt hắn sáng lên, chăm chú nhìn vào những dòng chữ mà Phương Vận vừa viết.

Chỉ thấy mười hai chữ đó bỗng nhiên tách ra thành từng nét riêng biệt; không giống như trước đây khi mỗi nét chữ biến thành những con giun đất, mà giờ đây chúng hóa thành những con rắn đen hung dữ lao về phía hắn.

Chữ viết như rắn…

Trước khi Nguyễn Dục kịp phản ứng, hàng chục con rắn mực đã lao tới và cắn vào người hắn.

“Aaa…”

Nguyễn Dục kêu thét và lùi lại liên tục; mãi cho đến khi hắn lùi ra khỏi tấm giấy thứ hai, những con rắn mực mới rút đi, và cuối cùng chúng lại hợp lại thành mười hai chữ lớn ban đầu của Phương Vận.

Cách viết chữ được truyền down qua thời gian; cách sử dụng bút để viết văn bản vẫn không hề thay đổi suốt hàng nghìn năm.

Nguyễn Dục cúi nhìn người mình, những vết thương do rắn cắn hiện rõ trên người, máu đang chảy ra từ những vết thương đó.

Hắn rên rỉ đau đớn, ánh mắt đầy sự bất lực.

Dù việc những chữ trong Thư Pháp Đình Hồng Diệu biến thành rắn không phải là biểu hiện của một tầm cao nào trong nghệ thuật thư pháp, nhưng nó cũng chứng tỏ rằng Phương Vận sở hữu một tiềm năng lớn lao; hơn nữa, những vết thương do những con rắn mực này gây ra sẽ kéo dài ít nhất một tháng trên cơ thể con người!

Nguyễn Dục ngẩng đầu lên.

Tấm giấy tan biến, và bia thứ hai hiện ra trước mắt họ.

Ánh mắt đầy bất lực trong mắt Nguyễn Dục chuyển thành tuyệt vọng. Anh không ngờ rằng phong cách viết và ý nghĩa của những chữ do Phương Vận tạo ra không chỉ vượt trội hơn mình, mà còn có thể hình thành thành những bia đá đầy ý nghĩa. Điều này có nghĩa là trong cuộc so tài này, Phương Vận chắc chắn đã chiếm ưu thế áp đảo. Nếu lần tiếp theo Phương Vận lại tạo ra được thêm một bia đá nữa, thì chắc chắn anh ta sẽ giành được 10 điểm hoàn hảo.

Đúng lúc đó, một người bước vào Thích Khích Đình.

“Hai người các bạn, có phải các bạn đã đứng sai vị trí không?” Kiều Cư Trạch cầm cây bút lớn, bước tới gần và nhìn ngạc nhiên vào hai bia đá đó.

“Anh Qiao đến kịp lúc quá! Nếu muộn thêm một chút nữa, cuộc so tài của chúng ta đã kết thúc rồi.” Phương Vận cười nhẹ.

Kiều Cư Trạch tiếp tục nói: “Thật không ngờ rằng khả năng viết chữ của Phương Vận lại cao đến thế! Chữ ‘vĩnh’ này chứa đựng quá nhiều điều tuyệt vời; một số kỹ thuật vận dụng bút trong đó thậm chí chưa từng xuất hiện trước đây. Nếu những bậc thầy hàng đầu trong lĩnh vực thư pháp sử dụng phong cách viết của bạn để viết chữ ‘vĩnh’, chắc chắn sẽ tạo ra một loại chữ mới! Thật đáng tiếc là do kiến thức của bạn vẫn còn hạn chế; nếu không, chỉ riêng loại chữ này thôi cũng đủ để bạn trở thành một bậc thầy thư pháp vĩ đại.”

Nguyễn Dục thở dài nhẹ, không nói gì thêm.

Lúc này, Kiều Cư Trạch mới nhìn sang Nguyễn Dục và thấy những vết cắn trên người anh ta, liền càng ngạc nhiên hơn. Ngay lập tức, anh ta quay đầu nhìn bia thứ hai.

“Tôi thực sự muốn xem Phương Vận đã viết điều gì mà khiến mực trên chữ biến thành hình con rắn! Ồ… Câu này… Tôi thật sự khó có thể hiểu nổi; có vẻ như nó đang chỉ ra con đường thiêng liêng của nghệ thuật thư pháp! Những lời như thế này, chẳng phải chỉ có những bậc thầy đạt đến cấp độ năm trong lĩnh vực thư pháp mới có thể nói ra sao?”

1/1 0%