lore

Chương 469: Cuộc thi 10 quốc gia lớn

13,374 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Lê Việt không nhìn người đang nói, vẫn tiếp tục nhìn ra bầu trời xanh phía ngoài cửa và nói: “Tại sao lại không được?”

“Đá Thăng Long là thứ mà Long Tộc tặng cho Ngôi Lê Gia của ta, là sự bảo hộ của Đạo Sư Lôi; làm sao có thể để người ngoại họ chiếm lấy được? Thà rằng ông đi thăm Long Cung một chuyến, xin một viên đá Thăng Long bình thường tặng cho Phương Vận… Chắc hẳn họ cũng không dám phản đối gì đâu. Nếu họ dám kỳ kèo, thì chỉ cần sử dụng di vật của Đạo Sư Lôi để Long Tộc cấm họ bước vào Bàn Thăng Long là được.”

Một người khác bất mãn nói: “Dù Long Tộc và Đạo Sư Lôi có mối quan hệ sâu đậm đến mức chúng ta cũng không biết rõ đến đâu, nhưng chỉ vì một viên đá Thăng Long mà sử dụng di vật của Đạo Sư Lôi, thật là không coi trọng Ngài lắm.”

“Đúng vậy, di vật của Đạo Sư Lôi không thể tuỳ tiện sử dụng được. Dù mối quan hệ có sâu đậm đến đâu, cũng có lúc phải dùng đến.”

“Hơn nữa, khi di vật của Đạo Sư Lôi được sử dụng, ngay cả những người bán thánh cũng có thể bị tiêu diệt. Ngôi Lê Gia của ta suốt hàng trăm năm cũng chỉ sử dụng chúng hai lần mà thôi… Không thể vì chuyện này mà làm vậy!”

Người kia nói: “Tôi không hề có ý định thực sự sử dụng di vật của Đạo Sư Lôi, chỉ muốn đưa tin ra ngoài thôi… Chắc chắn Long Tộc sẽ giữ thể diện.”

“Dù sao thì việc Phương Vận xuất hiện với bài thơ Hoàng Đế cũng đã giúp ích rất nhiều cho Long Tộc… Có lẽ họ sẽ không vì chuyện này mà từ chối đâu. Sau Tết Qixi, tôi sẽ đến Long Cung hỏi thăm thái độ của Long Tộc đối với Phương Vận… Nhưng công chúa ấy đã kiên quyết từ chối… Rõ ràng Long Tộc không cho rằng việc Vua Cá giúp họ giết con cháu của Ngôi Lê Gia của ta là điều đáng để trừng phạt.”

Mọi người im lặng.

Lê Việt nói: “Các bạn hãy nhờ đại học giả Nam Cung Lãnh Văn can thiệp vào chuyện của Phương Vận đi… Tôi vốn dĩ đã không đồng ý với việc này, nhưng vì các bạn muốn giành lại danh dự cho Lôi Gia, tôi cũng không cản trở nữa. Cuối cùng, việc cá cược về viên đá Thăng Long của Lôi Gia… Họ đã rơi vào tình thế bất lợi, và có vẻ như khả năng thắng cũng khá cao… Họ buộc phải cá cược… Nhưng ý trời khó lường… __TERM011__ đã phải chịu sự nhục nhã.”

Bây giờ, ai có cách nào để giải quyết được vấn đề danh tiếng của Ngôi Lê Gia của ta không?”

Mọi người trong Lôi Gia nhìn nhau, nhưng không ai lên tiếng.

“Thua thì thua thôi, không có gì đáng xấu hổ; chỉ những kẻ không chịu thua mới đáng xấu hổ mà thôi. Chuyện này thôi đi. Tảng đá Thăng Long đã thuộc về Phương Vận rồi, tôi sẽ tìm một tảng khác.”

Một số người thuộc nhóm Lôi Gia Nhân nhìn nhau, ánh mắt u ám.

Sau một lúc lâu, những người thuộc nhóm Lôi Gia Nhân lần lượt rời khỏi phòng họp; bốn người già đi chậm rãi cùng nhau.

“Cháu trai tôi đã chết oan vì Phương Vận. Chúng ta không thể đối đầu với Vua Cá voi đó, và tôi cũng không muốn làm gì Phương Vận… Nhưng anh ta nhất định phải đến mộ cháu trai tôi để nhận tội!”

“Dù lúc đó tình hình có phức tạp, nhưng người chết là quan trọng nhất; Phương Vận hoàn toàn nên nhận tội.”

“Phương Vận đang rất thành công, chúng ta không thể công khai đụng vào anh ta được… Phải làm sao đây?”

“Không lâu nữa sẽ đến cuộc thi Đại hội Mười Quốc gia cùng với Khổng Phủ Học Cung. Nếu anh ta biết điều đúng đắn mà rời khỏi nơi đó, tôi cũng không thể làm gì được anh ta… Nhưng vì anh ta đã vào đó, anh ta buộc phải tham gia cuộc thi này… Điều đó lại chính là cơ hội cho tôi! Tôi sẽ tự mình đến Cảnh Quốc và hứa hẹn với Cảnh Quốc, Tả Tướng và Liễu Sơn những điều tốt đẹp… Không cần gì khác, chỉ cần Phương Vận dám tham gia cuộc thi này, tôi chắc chắn sẽ tìm cách đổ lỗi cho anh ta về việc khiến Cảnh Quốc thất bại!”

“Cảnh Quốc liên tục thất bại trong những năm qua… Cuộc thi Đại hội Mười Quốc gia đòi hỏi sự đoàn kết của nhiều người trong một quốc gia… Có lẽ ban đầu Phương Vận có thể tự mình cầm cự được… Nhưng cuối cùng thì chắc chắn sẽ không vào được ba vị trí đầu tiên, thậm chí khó có thể vào được top năm… Nếu dùng cách này để làm suy yếu danh tiếng của Phương Vận một chút, thì đó quả là một biện pháp an toàn.”

“Đúng vậy… Tôi cũng không cần phải làm tổn thương nặng nề đến Phương Vận… Chỉ cần làm suy yếu danh tiếng của anh ta một chút thôi, để an ủi linh hồn cháu trai tôi trên trời! Còn những người sau này muốn lợi dụng chuyện này để truy cứu Ngôi Lê Gia của ta thì đó không còn liên quan đến chúng ta nữa.”

Hơn nữa, chúng ta có thể góp phần thúc đẩy mọi việc ngay từ đầu, đưa Phương Vận lên vị trí cao nhất, và rồi khiến họ tụt xuống một cách dữ dội – hiệu quả sẽ càng tốt hơn nữa.”

“Thật là hay!”

“Sau khi mọi chuyện thành công, tốt nhất là anh ta nên biết khi nào nên tiến lên, khi nào nên lùi bước, và trả lại cho Ngôi Lê Gia của ta tấm đá giúp họ thành công đó. Ngôi Lê Gia của ta có thể đổi lại cho anh ta một tấm đá bình thường. Nếu anh ta không biết cách xử lý tình huống, đừng trách chúng ta.”

“Ngoại trừ Long Tộc. Trong số con người và ba tộc yêu ma, Ngôi Lê Gia của ta là người hiểu rõ nhất về Đài Thăng Long. Việc trừng phạt anh ta một chút trên đài đó cũng không sao cả.”

Mọi người cùng nhau cười rồi đi xa.

Lăng Diên Các, trước lầu thứ bảy.

Xung quanh vẫn là sương mù, phía trước vẫn là một cái lầu bằng gỗ; trên bảng hiệu của lầu cũng viết ba chữ:

Lầu Thơ Màu.

Bên cạnh Lầu Thơ Màu, hai tấm gỗ phát sáng ánh vàng đang treo lơ lửng.

Phương Vận: Mười chiến thuật di chuyển núi non, mười chiến thuật sử dụng kiếm mực.

Phương Vận mỉm cười nhẹ, ánh mắt vẫn đặt trên ba chữ “Lầu Thơ Màu”.

Giai đoạn đầu tiên trong con đường hội họa chính là “tình cảm trong thơ, ý tưởng trong họa”. Hội họa có rất nhiều tên gọi khác nhau; vì màu sắc chủ yếu được sử dụng trong hội họa là màu đỏ và màu xanh, nên nó còn được gọi là “đỏ xanh”; và có những bậc thầy về thơ và họa đã nói rằng “họa là thơ màu sắc, thơ là họa đen trắng”, vì vậy “thơ màu” trở thành một tên gọi khác cho hội họa.

Nhờ sự hướng dẫn của Triệu Hồng Trang, Phương Vận đã gần đến ranh giới của giai đoạn đầu tiên trong con đường hội họa này; mặc dù vẫn chưa thực sự bước vào giai đoạn đó, nhưng cũng không còn xa nữa.

Vì Lầu Thơ Màu này, Phương Vận cũng đã chuẩn bị mọi thứ kỹ lưỡng.

Phương Vận bước chậm rãi vào lầu thứ bảy.

Khi mở mắt ra, Phương Vận cảm thấy đầu óc quay cuồng, mọi thứ xung quanh đều lấp lánh liên tục: núi cao, đồi nhỏ, cánh đồng, hoang mạc, sa mạc, đồng cỏ, núi tuyết, suối nhỏ, dòng sông dài, bình minh, công, vẹt, báo, chợ phiên, phố hoa, bà lão, cô gái trẻ… tất cả những thứ có thể được vẽ đều xuất hiện nhanh chóng trước mắt anh ta.

Phương Vận lập tức nhắm mắt lại, và sau một lúc lâu mới mở mắt ra để nhìn xung quanh.

Phía bắc là một cao nguyên phủ đầy tuyết trắng, không một cọng cỏ nào mọc lên; bầu trời thỉnh thoảng có những con đại bàng bay qua.

Phía tây là một con phố sôi động, với hàng loạt cửa hàng và dòng người tấp nập không ngừng, đủ mọi loại người.

Phía đông là những dãy núi hiểm trở, xanh um tùm.

Còn phía nam là những ngọn đồi cây thông, những tảng đá lẻ loi bên dòng suối, những chiếc thuyền tre yên bình trên mặt nước.

Phương Vận Quan sát kỹ lưỡng xung quanh, bốn cảnh tượng này chính là đề bài cho cuộc thi tại Đình Thơ Màu Sắc.

Lý do Đình Thơ Màu Sắc được xếp hạng thứ bảy trong số các đình thi khác, chủ yếu là bởi vì nó không chỉ kiểm tra khả năng vẽ tranh mà còn kiểm tra kiến thức về thơ ca; chỉ khi cả hai lĩnh vực này đều xuất sắc thì mới có thể đạt được mười điểm. Ngay cả Gu Kaizhi – người được coi là bậc thầy về hội họa thời đó – cũng không thể đạt được mười điểm; ngược lại, Đào Uyên Minh đã giành được mười điểm chính nhờ vào sự xuất sắc của mình cả về thơ lẫn hội họa.

Phương Vận Trước khi bước vào Lăng Diên Các, khi nhìn thấy ba chữ “Đình Thơ Màu Sắc”, ông tự nhiên liên tưởng đến lời nhận xét của Su Shi – vị thánh của thơ ca – về Wang Wei:

“Trong thơ có họa, trong họa có thơ.”

Trước khi tìm thấy cuốn sách kỳ diệu “Thế Giới Kinh Thú”, Phương Vận chỉ biết rằng Wang Wei là một nhà thơ vĩ đại của triều đại Đường; nhưng sau khi đọc cuốn sách đó, ông mới hiểu rằng Wang Wei đã đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hội họa. Wang Wei thậm chí còn được Đỗ Kỳ Xương – bậc thầy hội họa và thư pháp thời Minh – tôn vinh là “Tổ tiên của trường phái hội họa Nam Tông”.

Nếu nói về việc kết hợp thơ và họa một cách hoàn hảo, thì trong lịch sử Trung Quốc, chỉ có thơ và họa của Su Shi mới sánh ngang với thơ và họa của Wang Wei. Vì vậy, khi nhìn thấy ba chữ “Đình Thơ Màu Sắc”, Phương Vận lập tức nghĩ đến Wang Wei, và trước khi bước vào Lăng Diên Các, ông đã quyết tâm học theo phong cách hội họa của Wang Wei. Hơn nữa, Wang Wei còn để lại những tác phẩm nổi tiếng như “Luận về Phong cảnh Núi Non” và “Bí quyết Vẽ Phong cảnh Núi Non”, cùng với phong cách hội họa độc đáo mang tên “Họa Phong cảnh Bằng Mực Phai”.

Để học tốt thơ và họa của Wang Wei, để hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của ông, Phương Vận đã phát hiện ra một điều thú vị, đó là mối quan hệ giữa Wang Wei và Li Bai.

Hai người sinh cùng năm, mất cách nhau một năm, đều từng có mặt tại Chang'an cùng lúc; họ có rất nhiều bạn bè chung trong giới thơ ca, nhưng gần như không hề có bất kỳ sự g

Hai người này đều có mối liên hệ với Mạnh Hạo Nhàn, Vương Xương Lăng và Đỗ Phủ; họ cũng từng giao lưu với Công chúa Ngọc Chân. Li Bạch rất giỏi viết thơ tặng bạn bè, và nhiều nhà thơ nổi tiếng như Mạnh Hạo Nhàn, Vương Xương Lăng, Đỗ Phủ hay Cao Thích đều xuất hiện trong thơ của ông, nhưng danh tiếng lẫy lừng của Vương Duy thì lại không được ghi nhận trong các tác phẩm của Li Bạch.

Lý do cho mối quan hệ giữa hai người này đến nay vẫn chưa được biết rõ; một số người suy đoán là do Công chúa Ngọc Chân, trong khi những người khác lại cho rằng đó là do mâu thuẫn cá nhân chưa được ghi chép lại.

Nếu xét về độ sâu sắc trong thơ ca cổ điển, Li Bạch vượt trội hơn Vương Duy; nhưng nếu so sánh về sự kết hợp hoàn hảo giữa thơ và họa, thì Vương Duy lại chiếm ưu thế hơn.

Phương Vận Không vội vàng chọn đề tài để vẽ ngay, mà trước hết ông tự nhẩm lòng những bài luận và bí quyết về họa sơn thủy của Vương Duy, đồng thời nhớ lại các bài thơ của ông. Sau đó, ông mới quan sát lại cảnh vật xung quanh.

Ông lần lượt quan sát những cánh đồng tuyết trắng xóa, những khu chợ ồn ào, những khu rừng và dòng suối, suy ngẫm mãi rồi cuối cùng chọn lựa dòng suối đó làm đề tài cho bức tranh của mình.

Những cảnh vật ở ba hướng còn lại biến mất, và ngay sau đó, bàn ghế, bút mực, màu sắc – tất cả những dụng cụ cần thiết cho việc vẽ tranh và viết thơ – đều xuất hiện trước mặt Phương Vận.

Ông nhắm mắt lại, gợi nhớ những kiệt tác họa sơn thủy qua các thời đại, sau đó lấy ra một tờ giấy trắng vừa phải và bắt đầu vẽ ngay.

Trong giai đoạn chưa đạt đến trình độ cao nhất, người họa sĩ thường chú trọng nhiều hơn đến phong cách vẽ chi tiết và ít coi trọng phong cách tự do; bởi vì phong cách chi tiết thích hợp hơn cho việc vẽ tranh chiến tranh. Tuy nhiên, khi đã đạt đến trình độ cao, người họa sĩ sẽ cân nhắc đồng đều cả hai phong cách này.

Mặc dù chú trọng nhiều hơn đến phong cách vẽ chi tiết, Phương Vận vẫn không bỏ qua phong cách tự do; trong những ngày gần đây, ông chủ yếu học hỏi về phương pháp vẽ tự do trong họa sơn thủy từ Triệu Hồng Trang.

Vương Duy được Đông Kỳ Xương ca ngợi là “Người cha của trường phái họa Nam”, bởi vì phong cách “phá mực họa sơn thủy” của ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các trường phái họa trước đó và ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật họa sĩ văn nhân sau này; đặc biệt là phong cách tạo nếp gấp trên đá trong họa sơn thủy phía Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ông.

Từ “t

Phương Vận Ban đầu, ông vẫn tuân theo phong cách hội họa chủ đạo trên lục địa Thánh Nguyên vào thời điểm đó, nhưng khi vẽ những ngọn đồi và những tảng đá dưới nước, kỹ thuật vẽ của ông bỗng nhiên thay đổi hoàn toàn – ông áp dụng phong cách hội họa phong cảnh miền Nam do Vương Vi sáng lập, cụ thể là các kỹ thuật “bì ma xùn” và “mǐ fú phát minh ra – kỹ thuật “vũ điểm xùn”.

Nhờ vào tài năng xuất chúng của mình, những tảng đá trong bức tranh trở nên sống động và chân thực đến mức như thể chúng vừa thoát ra khỏi tờ giấy, mang lại cảm giác vô cùng nặng nề và có chiều sâu.

Sau khi áp dụng những kỹ thuật vẽ đá độc đáo mà chưa từng được hệ thống hóa trên lục địa Thánh Nguyên, tầm cao nghệ thuật hội họa của Phương Vận tăng lên một cách nhanh chóng và không thể kiểm soát được.

Chưa kịp vẽ xong những tảng đá, Phương Vận bỗng nghe thấy tiếng rách giấy kỳ lạ phát ra từ bên trong túi Văn Cung; có vẻ như ông đã làm rách một lớp giấy. Ngay sau đó, cảnh vật trước mắt và bức tranh đang được vẽ đều thay đổi hoàn toàn, và ông cảm nhận được sự hiểu biết sâu sắc hơn về thiên nhiên và nghệ thuật hội họa.

Đây chính là giai đoạn đầu tiên trong con đường nghệ thuật hội họa của ông – giai đoạn “thơ mộng và hội họa”.

Phương Vận mỉm cười nhẹ; dù kỹ năng vẽ của mình chỉ ở mức trung bình, nhưng việc sử dụng vài kỹ thuật đặc biệt này đã đủ để ông đạt đến cấp độ tám trong thang điểm đánh giá nghệ thuật hội họa. Tuy nhiên, để đạt đến cấp độ chín, ông vẫn còn thiếu một chút nữa.

Vì vậy, khi vẽ dòng suối, Phương Vận không khỏi áp dụng một số kỹ thuật vẽ được sử dụng bởi họa sĩ nổi tiếng thời Nam Tống là Hạ Quý trong bức tranh “Trường Giang Vạn Dặm Đồ”. Bức tranh này có tầm quan trọng lớn trong lịch sử hội họa, bởi vì cách thể hiện “dòng nước” trong bức tranh này đã có bước tiến vượt bậc so với những bức tranh phong cảnh trước đó; dòng nước trong tranh trở nên đầy đặn và sinh động hơn rất nhiều.

Trong bức tranh, những ngọn đá trên núi nhẹ nhàng chuyển động, ánh nước lấp lánh, và dòng nước thậm chí còn có vẻ như muốn “phun trào” ra khỏi tờ giấy…

1/1 0%