lore

Chương 1019: Về việc tính người lao động vào diện đất canh tác và những rào cản của nền kinh tế nông hội nhỏ đối với sự phát tri

12,465 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

**Thảo luận về việc lao động nông thôn được tính vào diện tích canh tác và những rào cản mà nền kinh tế nông hội gây ra đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp mới ở thời Kỳ Hán**

Trong chương trước, có độc giả cho rằng việc lao động nông thôn được tính vào diện tích canh tác sẽ củng cố nền kinh tế nông hội, từ đó cản trở sự phát triển của các ngành công nghiệp mới. Ở đây, tôi xin chia sẻ quan điểm cá nhân của mình.

Đây chỉ là quan điểm cá nhân thôi, không phải để tranh luận.

Bởi vì chủ đề này đã được thảo luận khá sâu rộng và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa.

Chỉ với hơn một trăm từ trong chương này thì không thể trình bày hết được; chúng ta cần phải dành riêng một chương để bàn về vấn đề này.

Quan điểm cho rằng nền kinh tế nông hội sẽ cản trở sự phát triển của các ngành công nghiệp mới thực sự đúng trong một số trường hợp nhất định.

Nhưng điều này lại có những điều kiện tiên quyết.

Một là về lương thực, hai là về dân số.

Chúng ta hãy bắt đầu với vấn đề lương thực trước.

Nông nghiệp là ngành sản xuất đầu tiên, là nền tảng cho tất cả các ngành công nghiệp mới, bởi vì chúng đều cần một lượng lớn lương thực hàng hóa.

Tuy nhiên, nền kinh tế nông hội lại chiếm dụng phần lớn đất canh tác, khiến việc cung cấp lương thực hàng hóa một cách tập trung trở nên khó khăn.

Đúng không?

Nhưng liệu có ai đã từng suy nghĩ rằng, với dân số ít ỏi của thời Tam Quốc, nếu phân chia hết toàn bộ đất canh tác trên cả nước, thì mỗi hộ nông dân sẽ được chia bao nhiêu hecta đất?

Hơn nữa, người xưa không hề ngu ngốc đến mức sẵn lòng chia hết đất đai của mình ngay từ đầu, sau đó thì bỏ mặc không quan tâm đến nó nữa.

Điều đó là không đúng.

Ví dụ, vào thời Đường, việc phân đất cho người dân được chia thành hai loại: một loại gọi là “đất vĩnh nghiệp”, loại còn lại gọi là “đất phân theo khẩu phần”.

“Đất vĩnh nghiệp” chính là những mảnh đất mà người dân có thể canh tác mãi mãi.

Còn “đất phân theo khẩu phần” thì khác; chỉ được phân cho người dân canh tác trong thời gian họ còn sống, và sau khi họ qua đời, nhà nước sẽ thu hồi lại đất đó.

Đồng thời, vào giai đoạn đầu thời Đường, chính quyền vẫn còn nhiều đất đai trong tay.

Tại sao lại làm như vậy?

Đó là để chuẩn bị cho sự tăng trưởng dân số sau này.

Chính sách phân đất đều đặn và hệ thống thuế – lao động – nghĩa vụ đã được xây dựng dựa trên cơ sở này.

Cho đến khi triều đình Đường phân hết đất đai trong tay, thì chính sách phân đất đều đặn và hệ thống thuế – lao động – nghĩa vụ mới bắt đầu gặp phải những khó khăn.

Nếu lấy ví dụ gần đây hơn

Theo cùng một lý lẽ đó, sau khi Kỳ Hán thống nhất thiên hạ, trừ khi các ngành công nghiệp mới không hề phát triển trong vòng năm mươi năm, khiến cho dân số tăng thêm chiếm hết những đất canh tác dự trữ của quốc gia, thì không thể nào khác được.

Nếu không, những tầng lớp quyền lực mới chắc chắn sẽ đòi hỏi mạnh mẽ việc tăng cường cung cấp các loại hàng hóa như lương thực và nguyên liệu thô khi các ngành công nghiệp này cần mở rộng quy mô sản xuất.

(Tất nhiên, điều này vẫn chưa tính đến việc kỹ thuật canh tác nông nghiệp có được cải thiện hay không.)

Vấn đề về lương thực trong các ngành công nghiệp mới, về cơ bản, là:

Liệu các nhóm lợi ích liên quan đến những ngành công nghiệp này có đủ khả năng điều phối lượng lương thực cần thiết để hỗ trợ sự phát triển của chúng hay không?

Câu trả lời cho điều này là hiển nhiên.

Như đã đề cập nhiều lần trước đây, mỗi lần “Thổ Lý” thúc đẩy sự mở rộng của các ngành công nghiệp mới, đều dựa trên cơ sở có nguồn cung lương thực đủ dùng.

Không thể tin được rằng “Thổ Lý” trước đây đã hiểu rõ những nguyên tắc này, nhưng sau khi áp dụng chính sách “phân công lao động vào đất canh tác”, lại không còn biết nữa; điều đó thật là vô lý.

Khi Kỳ Hán thống nhất thiên hạ, những tầng lớp quyền lực mới chắc chắn sẽ trở thành những nhóm lợi ích hàng đầu của Kỳ Hán. Bạn có tin rằng họ không có khả năng điều phối lương thực không?

Khi Thủ tướng đi chinh phục phía nam, liệu ông ấy có quên hết mọi chuyện đã xảy ra không?

Đó chỉ là lần hợp tác đầu tiên giữa các tổ chức Xinghan Hui mà thôi; so với những tổ chức tài phiệt lớn mạnh sau này, điều đó hoàn toàn không đáng kể.

Vấn đề thứ hai là dân số.

Khi sản lượng lương thực tăng lên, dân số cũng sẽ tăng theo. Tuy nhiên, chính sách “phân công lao động vào đất canh tác” đã giảm bớt gánh nặng cho nông dân, khiến họ muốn ở lại trên đất đai của mình thay vì tham gia vào các ngành công nghiệp mới.

Tuy nhiên, điều này cũng có những điều kiện tiên quyết.

Đó là: Sự tăng lên của số lượng nông dân tự cày cấy phải dựa trên cơ sở quốc gia tái phân phối đất đai để duy trì số lượng này.

Nhưng nếu sau khi Kỳ Hán thống nhất thiên hạ, chỉ tiến hành phân phối đất đai một lần duy nhất, và thế hệ nông dân tự cày cấy thứ hai không nhận được đất đai, thì sao đây?

Nếu gia đình họ vẫn chỉ có số lượng đất đai như cũ, liệu những nông dân đó còn được coi là nông dân tự cày cấy nữa không?

Hãy lấy kinh nghiệm của chúng ta để minh họa: Chính sách khoán ruộng được triển khai rộng rãi vào năm 1982.

Nhưng đến những năm 90 và thiên niên kỷ mới, chưa đầy hai mươi năm, đã xuất hiện làn sóng người nông dân ra

Khi những biện pháp đó không còn hiệu quả nữa, thì mọi chuyện sẽ kết thúc một cách “nghiêm trọng”.

Còn chúng ta thì, nhờ vào quá trình công nghiệp hóa, có thể giải quyết vấn đề này tốt hơn nhiều.

Theo cùng một lý thuyết, sau khi Kỳ Hán thống nhất thiên hạ, nếu không tiếp tục phân bổ đất đai cho số dân ngày càng tăng, thì trong vòng hai mươi năm, áp lực đối với các gia đình nông dân tự canh tác sẽ tăng lên gấp bội.

Những người dân dư thừa đó sẽ đi về đâu?

Ngoài các ngành công nghiệp mới nổi, họ còn có chỗ nào khác để đến không?

Chưa kể đến việc nông dân không muốn rời bỏ đất đai của mình.

Nếu một gia đình năm người phải làm việc từ sáng đến tối mới đủ sống qua ngày, bạn có nghĩ họ sẵn lòng rời bỏ nơi đó không?

Hãy xem xét trường hợp của quận Việt Khe; nếu thêm vào đó một vài ưu đãi chính sách nữa thì sao?

Ngay cả bây giờ, không chỉ thuế đầu người được bãi bỏ, mà thuế nông nghiệp cũng đã được loại bỏ, thậm chí nhà nước còn cung cấp trợ cấp để người dân canh tác trên đất của mình, bạn có muốn không?

Vấn đề duy nhất ở đây là, nếu Kỳ Hán thực sự có thể thống nhất thiên hạ, thì trong suốt hai mươi năm đó, chính là thời kỳ mang lại lợi ích lớn nhất cho các ngành công nghiệp mới nổi.

Vậy thì nguồn dinh dưỡng để những ngành công nghiệp này phát triển sẽ đến từ đâu?

Câu trả lời rất đơn giản: Nếu Kỳ Hán thực sự chiếm được cả hai nước Tào Ngụy và Ngô, thì ít nhất cũng cần hai ba mươi năm mới có thể hấp thụ hết những lợi ích mà việc thống nhất thiên hạ mang lại.

Nếu những gia tộc lâu đời ở Trung Nguyên đại diện bởi Tào Ngụy và các gia tộc giàu có ở Giang Đông đại diện bởi Ngô là những phần “thịt mỡ”, thì các dân tộc man rợ ở biên giới chính là những phần “thịt nạc”.

Nếu bạn không chọn ăn những phần “thịt mỡ” mà lại quay đầu về ăn những phần “xương vụn” của người dân bình thường, thì khẩu vị của những người mới nổi lên chắc chắn sẽ không đặc biệt đến thế.

Chưa kể đến những cuộc đấu tranh sinh tồn giữa phe cũ và phe mới.

Vấn đề thứ ba là sự xung đột tiềm ẩn giữa nền kinh tế nông nghiệp nhỏ, đại diện bởi các gia đình nông dân tự canh tác, và các ngành công nghiệp mới nổi.

Vấn đề này cũng có thể được minh họa thông qua quá trình phát triển của đất nước chúng ta.

Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trên đất nước chúng ta: các vùng ven biển phát triển mạnh mẽ, trong khi các vùng miền trung và miền tây lại tụt hậu.

Trong nhiều năm qua, chúng ta luôn cố gắng chuyển những nguồn lực dư thừa ở vùng ven biển sang các vùng miền trung

Lấy ví dụ điển hình như Lương Châu, nơi này đất rộng người thưa, có đủ đất canh tác để sản xuất lương thực, cũng có đủ nguyên liệu thô để cung cấp cho các hoạt động sản xuất, đồng thời sở hữu những ưu thế địa lý thuận lợi cho giao thương.

Vậy ở vùng đất trong đất nước, ngoài lương thực ra còn có cái gì nữa?

Vậy tại sao các ngành công nghiệp mới mẻ lại nhất thiết phải phát triển về phía vùng đất trong đất nước?

Có khi nào chúng lại cảm thấy thế giới bên ngoài thật hấp dẫn không?

Nếu ngay cả những tổ chức mạnh mẽ nhất trên thế giới cũng không thể làm được điều gì đó, thì tại sao Kỳ Hán lại có thể làm được?

Ngay cả khi giả định rằng tư duy của giới quý tộc mới mẻ ở Kỳ Hán khá mới mẻ và họ muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh khốc liệt đó, thì điều đó cũng không thể biện minh được việc các ngành công nghiệp mới mẻ cần phải phá hủy nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ ở vùng đất trong đất nước.

Quốc gia có dự trữ đất canh tác để sản xuất lương thực, có khả năng kiểm soát lượng lương thực thông qua nhiều phương thức khác nhau, và còn có lượng lương thực mà các nhóm lợi ích có thể sử dụng. Nhưng tổng số những yếu tố này vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp mới mẻ.

Điều đó có nghĩa là sức mạnh sản xuất mà các ngành công nghiệp mới mẻ đại diện đã phát triển đến mức cần phải thay đổi toàn bộ cơ cấu sản xuất xã hội.

Ít nhất thì đó cũng là dấu hiệu báo trước cho cuộc Cách mạng Công nghiệp.

Trong tình huống đó, dù có phải đào những con “rắn đất” từ mộ lên, họ cũng không thể ngăn cản được dòng chảy lịch sử mà trong đó giai cấp tư sản sẽ thay thế hoàn toàn xã hội phong kiến.

Dù phải chặt đầu họ hay treo họ lên cột đèn đường, dù làm gì đi nữa, cũng không thể thay đổi được sự thật đó.

Đây đã không còn là vấn đề mà những con “rắn đất” có thể xem xét được nữa.

Điểm thứ tư, vấn đề về sự ủng hộ của giới quý tộc đối với chính sách “gộp lao động nông dân vào đất canh tác”.

Vấn đề này thì rất đơn giản.

Nhưng hiện tại, các ngành công nghiệp mới mẻ vẫn đang ở giai đoạn phát triển song hành với chính sách này; vậy tại sao chúng không thể tồn tại cùng nhau được?

Bản chất của vốn là luôn theo đuổi lợi nhuận, và hai phương tiện để đạt được mục tiêu đó là nâng cao giá cả sản phẩm và giảm chi phí sản xuất.

Mọi người đều biết rằng các ngành công nghiệp mới mẻ cần rất nhiều lương thực, vậy thì việc bãi bỏ thuế đầu người và giảm thuế nông nghiệp chẳng phải là cách để giảm chi phí cung cấp lương thực sao?

Vậy tại sao giới quý tộc lại không ủ

Sự khác biệt nằm ở chỗ, việc này được điều phối bởi toàn thể quốc gia, nhằm đảm bảo rằng quá trình này diễn ra một cách ổn định và từ từ.

Hoặc là để các ngành công nghiệp mới phát triển quá mức rồi sau đó sử dụng những biện pháp cứng rắn để giành lấy những gì họ muốn.

Vẫn là câu nói đó: Lực lượng sản xuất quyết định mối quan hệ sản xuất; khi phát triển đến một giai đoạn nào đó, chúng ta cần tập trung giải quyết những mâu thuẫn chính của giai đoạn đó.

Mâu thuẫn chính hiện nay của Kỳ Hán là làm thế nào để thống nhất cả nước.

Dù là các ngành công nghiệp mới hay chính sách “đưa người lao động vào đất canh tác”, tất cả đều là những yếu tố hỗ trợ cho việc Kỳ Hán thống nhất đất nước.

Ở giai đoạn hiện tại, sự mâu thuẫn giữa hai điều này không phải là mâu thuẫn chính, và cũng không phải là điều không thể hòa giải được.

Chính sách “đưa người lao động vào đất canh tác” chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề dân số ẩn danh, đồng thời kích thích tính tích cực của nông dân, giúp họ nhanh chóng phục hồi sản xuất và tăng thêm dân số (xem ví dụ về sự tăng trưởng dân số mạnh mẽ sau thời Đường Yongzheng).

Mục đích của nó là để sau này có thể chuẩn bị nguồn lực lao động tốt hơn cho các ngành công nghiệp mới, chứ không phải để những ngành này ngay lập tức nhận được nguồn nhân lực từ chính chính sách này.

Hiện nay, một phần nguồn lực cần thiết cho các ngành công nghiệp mới được cung cấp bởi các tầng lớp mới nổi, một phần khác đến từ các dân tộc khác; và một phần lớn nữa thì được chiếm đoạt từ tay các gia tộc quý tộc bảo thủ trong nội bộ các quốc gia như Nước Ngụy, Nước Ngô và Thục.

Đây cũng chính là lý do tại sao “Thổ Nhĩ Tỉnh” lại phải bán các suất quyền sở hữu xưởng, cũng như yêu cầu nữ tổng giám đốc thành lập các hiệp hội ngành nghề:

Để kiểm soát tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp mới trong một phạm vi nhất định, không để chúng phát triển một cách hỗn loạn và man rợ.

Mỗi thế hệ cần tự giải quyết vấn đề của riêng mình, cố gắng không để lại những vấn đề cho thế hệ sau.

Nhưng cũng đừng mơ tưởng rằng có thể giải quyết mọi vấn đề cho thế hệ sau một cách mãi mãi, bởi vì bạn không thể giải quyết những vấn đề chưa thậm chí còn chưa xuất hiện.

Cách để phá vỡ chế độ chính trị của các gia tộc quý tộc và thay đổi hướng đi của lịch sử, đó mới chính là vấn đề quan trọng nhất mà “Thổ Nhĩ Tỉnh” cần giải quyết.

Còn về việc liệu các ngành công nghiệp mới có thể gây ra cuộc Cách mạng Công nghiệp hay không, và nếu có, thì tầng lớp mới nổi sẽ quy

1/1 0%