lore

Chương 239: Mùa xuân đến rồi, bệnh tình của Trần Đăng trở nên nặng hơn, còn Tôn Thái thì đang chuẩn bị hành động.

17,981 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thỉnh thoảng có một hoặc hai trường hợp điều trị chậm một chút thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến danh tiếng của Hua Tuo. Nhưng nếu ông có thể góp phần quan trọng vào những tác phẩm y học của mình suốt cuộc đời, thì đó chắc chắn sẽ là một thành tựu lớn được ghi chép trong sử sách.

Hua Tuo rất rõ ràng về việc cái nào quan trọng hơn cái nào.

Vì vậy, ngày hôm sau, phủ thái úy đã công bố rằng ông Chén đang bị bệnh nặng và cần phải nghỉ ngơi dài hạn để điều trị.

Để thuận tiện cho việc khám bệnh, Trần Đăng đã chuẩn bị một biệt thự lớn cho Hua Tuo ngay trên con phố nơi phủ thái úy đặt trụ sở. Biệt thự này có nhiều tầng; phần sau dùng làm nơi ở, còn các tầng phía trước có thể được chuyển đổi thành phòng thuốc hoặc phòng khám.

Như vậy, khi Trần Đăng không cần Hua Tuo đi khám bệnh, ông vẫn có thể dành thời gian để giúp đỡ những người khác. Còn về chi phí thiết bị và nguyên liệu trong phòng khám, tất nhiên cũng đều do một nguồn tài chính bí mật đài thọ.

Hua Tuo không phải là người quá coi trọng tiền bạc, nhưng nếu người khác muốn tặng ông thứ gì đó mà ông thực sự thích, ông vẫn sẽ nhận.

Chẳng hạn, nội thất trong phòng khám được trang trí rất sạch sẽ; tường được sơn bằng hỗn hợp vôi mịn. Các tấm rèm cũng rất sạch sẽ, và ga băng làm từ sợi lanh thì có thể sử dụng một cách thoải mái. Thậm chí còn có cả bộ dao mổ mới được chế tạo từ thép cán và qua quy trình xử lý nhiệt hiện đại, cùng với các dụng cụ tiệt trùng làm từ sứ xanh.

Dù Hua Tuo là người rất ung dung với danh vọng và tiền bạc, nhưng ông cũng không thể từ chối những thứ có thể giúp công việc của mình trở nên hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, mặc dù phòng khám này được tổ chức một cách hoành tráng, thực tế chỉ có một môn đệ của Hua Tuo làm việc hàng ngày; chỉ khi gặp những ca bệnh rất phức tạp, họ mới mời thầy đến giúp đỡ.

Môn đệ còn lại cùng với chính Hua Tuo đều bận rộn nghiên cứu “Luận về Quýt Lê” và quan sát các thí nghiệm liên quan đến vi sinh vật lên men.

“Luận về Quýt Lê” của Chu Gia Lượng có tổng cộng hơn 20.000 từ; chỉ cần đọc qua và hiểu sơ bộ thôi, Hua Tuo cũng cần ít nhất mười ngày đến nửa tháng. Kết hợp với việc quan sát các thí nghiệm, nếu có thể hiểu được nội dung sau một hoặc hai tháng thì đã là tốt lắm rồi.

Trong khoảng thời gian đó, Chu Cáp Kinh cũng đã ra lệnh cho các thợ gốm từ Yuzhang đến xây dựng thêm một lò nung để sản xuất kính màu và thử nghiệm các công thức mới. Khi Hua Tuo hoàn thành việc nghiên cứ

Việc kéo dài tình trạng này cho đến khi “Sắc lệnh về việc sử dụng dây thắt lưng” được ban hành và Tôn Thác phản ứng theo Tào Tháo đã hoàn toàn đủ để giải quyết mọi chuyện.

Còn những người bên ngoài thì không hề biết trong thời gian này Hua Tuo đang bận rộn với điều gì; thấy ông ở lại Quảng Lăng lâu dài và ít khi ra khám bệnh hàng ngày, mọi người còn tưởng rằng Trần Đăng thực sự đang rất nặng bệnh, đến nỗi không thể rời xa ông được.

Chưa đầy mười ngày, tin tức về tình trạng bệnh nặng của Trần Đăng đã không còn là bí mật nữa tại Quảng Lăng, thậm chí còn lan sang bên kia sông Dương Tử, và ngay cả Tôn Thác Châu Du cũng biết được.

Lúc đầu, Tôn Thác Châu Du vẫn lo lắng rằng có thể đó là tin giả mạo, nên họ đã cử người điều tra bên kia sông để xác minh. Sau khi kiểm tra nhiều lần và nhận thấy mọi thứ đều đúng sự thật, họ mới yên tâm.

Hơn nữa, Tôn Thác Châu Du còn phát hiện ra một điều bất ngờ: vì Trần Đăng bị bệnh nặng, dường như lực lượng hải quân của quân đội của Lưu Bị ở khu vực Quảng Lăng cũng giảm bớt tần suất tuần tra trên sông, và mọi thứ đều trở nên yên ắng.

Ngược lại, ở khu vực Dan Yang Quận, huyện Wuhu, nằm ở bên nam sông Dương Tử, lực lượng hải quân của Quan Vũ lại đang tăng cường cảnh giác một cách đáng kể, thường xuyên tiến hành các cuộc tuần tra trên sông để thể hiện sức mạnh của mình.

Tất cả những điều này, khi được Châu Du quan sát, mặc dù lúc đầu ông vẫn chưa thể hiểu hết, nhưng đã để lại cho ông một ấn tượng ban đầu nhất định.

Sau vài ngày, khi công việc liên quan đến Hua Tuo và những việc như xây dựng lò đốt kính, sắp xếp “thí nghiệm vi khuẩn của Pasteur” đã được hoàn thành, Chu Cáp Kinh cuối cùng cũng có thể trở lại với nhịp độ công việc bình thường của mình và tiếp tục chuyến thanh tra tại Quảng Lăng.

Đã đến ngày thứ hai của tháng Hai, ngày Rồng ngước đầu – khoảng thời gian mà mọi vật đều bắt đầu hồi sinh và việc canh tác mùa xuân sắp bắt đầu.

Vì vậy, Chu Cáp Kinh đã điều chỉnh lịch trình công việc của mình, dành bảy hay tám ngày để tự mình kiểm tra kết quả của các công việc cải tạo đồng ruộng vào mùa đông năm ngoái và công việc khơi thông ao hồ ở khu vực Shiyang Ze trong tỉnh Quảng Lăng.

Đồng thời, ông còn trực tiếp giám sát công tác khuyến nông và tổ chức canh tác mùa xuân, yêu cầu các huyện đặc biệt chú ý đến việc hỗ trợ những người dân di cư mới đến trong quá trình canh tác này.

Huyện Quảng Lăng năm ngoái chỉ có khoảng hơn bốn trăm nghìn người dân, nhưng vào năm ngoái, khi Viên Thác bị tiêu diệt, đã có hơn một trăm nghìn người dân di cư từ khu vực thượng lưu sông Hoài đổ về đây.

Sau đó, khi Tào Tháo tiêu diệt Lư Bu, lại có thêm hơn hai trăm nghìn người dân từ hai huyện Pengcheng và Langya, cùng năm huyện thuộc huyện Đông Hải nằm phía tây sông Yishui, di cư đến đây. Trong số đó, huyện Xiapi và huyện Đông Hải chiếm gần một nửa số người di cư, còn huyện Quảng Lăng cũng tiếp nhận gần một trăm nghìn người.

Vì vậy, hiện nay dân số của huyện Quảng Lăng đã tăng lên gần bảy trăm nghìn người, tăng gấp rưỡi so với hai năm trước!

Sự gia tăng dân số đồng nghĩa với nhu cầu lớn về đất canh tác. Huyện Quảng Lăng nằm ở vùng đồng bằng phía bắc Sử Châu, nơi có rất nhiều đất bằng phẳng thích hợp cho việc canh tác, nhưng vấn đề lớn là có quá nhiều đầm lầy và vùng ngập nước. Vì vậy, dù hàng năm đều tận dụng thời gian rảnh rỗi vào mùa đông để tổ chức lao động công ích nhằm xây dựng đê chống lũ và cải thiện hệ thống thủy lợi, nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu của dân số ngày càng tăng.

Có lẽ tình trạng buộc người dân phải làm việc với cường độ cao suốt cả năm, không được nghỉ ngơi, sẽ còn tiếp diễn trong vài năm nữa. Đặc biệt là từ năm ngoái, huyện Quảng Lăng và huyện Đông Hải còn phải xây dựng các ruộng muối và nhà máy sản xuất bánh mì ở vùng ven biển nhằm tăng sản lượng muối biển và bột mì.

Tuy nhiên, xét đến việc tỷ lệ thuế hiện tại do Lưu Bị quản lý không quá cao, và ngành đánh bắt cá cũng như ngành sản xuất muối phát triển rất mạnh, người dân dù phải làm việc vất vả nhưng ít ra vẫn đủ ăn, vì vậy họ có thể chịu đựng được việc làm thêm công việc.

Dưới sự giám sát trực tiếp của Chu Cáp Kinh, các cấp quan chức đều không dám lơ là hay trốn tránh trách nhiệm của mình.

Ngoài ra, với sự lãnh đạo của Trần Quân – một người có năng lực thực sự trong công tác quản lý nội bộ – cùng với sự phối hợp chặt chẽ của Jiang Ji và Hu Zhi trong việc khuyến nông và quản lý công bằng tại hai huyện Quảng Lăng và Đông Hải, mọi việc đều diễn ra rất thuận lợi và không cần phải bàn thêm nữa.

Thời gian trôi qua nhanh chóng, đến giữa th

Sau khi hoàn thành các công việc kiểm tra thường nhật khác, hiện tại tại huyện Quảng Lăng, chỉ còn lại một nhiệm vụ cuối cùng là tiến hành kiểm tra nghiệm thu – đó là trao đổi ý kiến với Mi Trọng và Thái Sử Tư để tìm hiểu tiến triển của công việc mở rộng tuyến đường biển từ Liêu Đông bắt đầu vào mùa thu năm ngoái.

Cần phải xem xét xem Mi Trọng đã mua được bao nhiêu con ngựa chiến thông qua tuyến đường biển này, tình hình tiêu thụ các hàng hóa khác dùng để trao đổi ngựa chiến ra sao, và liệu có cần phải tìm kiếm thêm những loại hàng hóa mới để thực hiện các giao dịch trao đổi hay không.

Lý do tại sao nhiệm vụ kiểm tra này được đặt ở cuối cùng là bởi vì cần phải đi riêng đến hai huyện cảng ven biển là Quyền huyện và Hải Tây.

Chu Cáp Kinh Chỉ sau khi kết thúc toàn bộ các công việc kiểm tra tại khu vực Quảng Lăng và Huai Âm, ông mới lên thuyền đi xuôi theo dòng sông Hoài, từ huyện Hải Tây ra biển. Trần Đăng không đi cùng; chỉ có Mi Trọng và Thái Sử Tư đồng hành cùng ông.

Theo nhớ của Chu Cáp Kinh, dường như chỉ có ba năm rưỡi trước, vào thời điểm thành phố Huai Âm gặp nguy nan và ông lần đầu tiên quyết định ủng hộ Lưu Bị, thì ông mới có nhiều cơ hội tiếp xúc với Mi Trọng.

Lúc đó, hai người cùng nhau được Trương Phi hộ tống để chạy trốn đến huyện Hải Tây, tổ chức lực lượng dự bị, giúp Lưu Bị vượt qua giai đoạn khó khăn trong cuộc phản công chống lại Quảng Lăng và giải quyết tình huống bị kẹp kín bởi Kỷ Linh Lưu Quân.

Nhưng sau đó, do sự thay đổi của lịch sử và việc Lưu Bị không còn cần đến khả năng “cứu nguy” của ông nữa, ông đã đánh mất cơ hội trở thành trợ lý chính trị số một bên cạnh Lưu Bị.

Mãi cho đến hai năm sau, khi em gái ông là Mǐ Zhēn trở thành thiếp của Lưu Bị, thì địa vị của bà ấy cũng thấp hơn nhiều so với thời điểm tương ứng trong lịch sử; dù sao thì đó cũng không phải là hành động giúp đỡ đúng lúc cần thiết.

Trong hai năm tiếp theo, Chu Cáp Kinh ít khi có cơ hội tiếp xúc với Mi Trọng; ông sợ rằng địa vị của mình sẽ vượt xa người kia, khiến đối phương cảm thấy ngượng ngùng. Cho đến năm ngoái, khi địa vị của em trai ông là Trọng Giác huynh đã trở nên vững chắc đến mức không ai có thể lay chuyển được, và Mi Trọng cũng tìm được vị trí mới cho mình, mối quan hệ giữa hai người mới trở nên hòa thuận và tự nhiên trở lại.

Năm ngoái, Chu Cáp Kinh đã thực hiện rất nhiều dự án phát triển công nghiệp và thương mại tại hai huyện Quảng Lăng và Chu Cáp Kinh. Họ đã xây dựng các cánh đồng muối trên những bãi biển dài hàng trăm dặm dọc theo hai bờ sông Hoài Hà; xây dựng nhiều tuabin gió mới và các xưởng xay bột do chính quyền điều hành. Những nghiên cứu của Chu Gia Lượng về cây quýt cũng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của công nghệ sản xuất rượu và giấm tại hai huyện này.

Mi Trọng đã bỏ ra số tiền lớn để tham gia vào các hoạt động kinh doanh liên quan đến rượu, giấm, bột mì và muối, đồng thời tiếp tục đầu tư vào ngành đóng tàu biển nhằm mở rộng quy mô và tăng cường sức mạnh của hải quân. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi, tài sản của Mi Trọng đã tăng gấp đôi – quả thật, việc kinh doanh sẽ thuận lợi hơn nhiều khi có sự hỗ trợ của công nghệ.

Trong thời đại đó, không có “luật bằng sáng chế”, về lý thuyết thì việc học hỏi công nghệ từ người khác cũng không yêu cầu phải trả tiền. Tuy nhiên, Mi Trọng vẫn tuân thủ nguyên tắc công bằng: bất kỳ hoạt động kinh doanh nào sử dụng công nghệ của Trọng Giác huynh, ông đều trích ra ít nhất 30% lợi nhuận ròng để chia cho anh trai mình. Con số cụ thể phụ thuộc vào mức độ phức tạp của công nghệ được sử dụng.

Chu Cáp Kinh cũng không bao giờ kiểm tra sổ sách kinh doanh của Mi Trọng; mọi thứ đều được thực hiện theo thỏa thuận tự nguyện giữa hai người. Mối quan hệ giữa họ rất hòa thuận, vì vậy mọi cuộc kiểm tra đều diễn ra suôn sẻ.

Khi đến huyện Hải Tây, Mi Trọng đã dẫn Chu Cáp Kinh đi thăm trang trại nuôi ngựa mới được xây dựng. Nơi đó, một khu đất rộng lớn gần bờ biển – nơi mà do đất có tính kiềm cao nên không thể trồng trọt được, chỉ có thể mọc những loại cỏ dại chịu được đất kiềm – đã được sử dụng để nuôi ngựa.

Mi Trọng giải thích: “Nơi đây trước đây chỉ toàn là cỏ dại và bụi rậm. Năm ngoái, khi chuẩn bị cho việc mua ngựa từ miền Đông Bắc, tôi đã cho người ta chọn những loại cỏ phù hợp để trồng trên khu đất này. Sau đó, chúng tôi đã đốt hết cỏ dại cũ và gieo hạt cỏ mới. Việc trồng cỏ không cần phải chăm sóc nhiều; chỉ cần để chúng tự phát triển là được. Hiện tại, cây cỏ vẫn chưa mọc tốt lắm, nhưng đến mùa hè, chúng tôi sẽ có thể thả những con ngựa chiến từ Liêu Đông đến đây để chúng tự sinh sống mà không cần phải cho ăn thêm.”

Năm ngoái, việc mở đường thủy mất tới hai tháng; cho đến nay, chúng tôi mới chỉ kịp thực hiện hai

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là con đường giao thương đã được mở ra; từ nay về sau, chúng ta có thể tiến hành giao thương một cách liên tục, mua được hàng ngàn con ngựa mỗi năm. Chỉ cần chúng ta có đủ Công Tôn Độ hàng hóa cần thiết, thì vấn đề về năng lực vận chuyển bằng tàu biển không còn đáng lo ngại nữa. Những con tàu lớn mà tôi đã tích lũy trong những năm qua đã đủ để duy trì hoạt động giao thương ở Liêu Đông rồi.”

Nhìn những cánh đồng cỏ mới được xây dựng, chỉ toàn là cỏ xanh um tùm mọc lên, tôi cảm thấy vẫn còn thiếu sót gì đó… Làm sao ngựa chiến chỉ ăn cỏ xanh thôi thì đủ được?

Tuy nhiên, các loại thức ăn chính cho ngựa ở thời kỳ sau này, như cỏ linh lăng chẳng hạn, dường như không thể trồng được trên những vùng đất mặn và kiềm ven biển; hơn nữa, những loại cây này đều là sản phẩm của miền Bắc. Việc nuôi ngựa, bò, cừu trên quy mô lớn ở miền Nam quả thật khá khó khăn.

Tôi tìm hiểu một chút thông tin về những người chia sẻ kinh nghiệm nuôi gia súc ăn cỏ mà mình đã từng xem trước đây; tôi nhớ có vài chương trình của anh em Hua Nong và ông chủ Ao nói về việc nuôi gia súc ăn cỏ ở miền Nam. Một người trong số họ đến từ vùng Tứ Xuyên, người kia đến từ phía nam Giang Tây; phương pháp nuôi của họ chắc chắn rất phù hợp với điều kiện ở miền Nam.

Tôi tự hỏi trong lòng: “Tôi nhớ ông chủ Ao đã từng nghiên cứu một loại thay thế cỏ linh lăng do Viện Nông nghiệp Sichuan phát triển – đó là giống cây được lai tạo từ chuối, không cho quả nhiều, nhưng thân cây chứa nhiều chất dinh dưỡng, rất dễ được ngựa và bò hấp thụ. Với trọng lượng của thân chuối, mặc dù nó thuộc loại thực vật thân thảo, nhưng thân nó có thể mọc to bằng cây; nếu ‘thân cây’ đó cũng có thể được ngựa và bò tiêu hóa hết, thì chất dinh dưỡng trong đó chắc chắn rất dồi dào. Thật đáng tiếc là các giống chuối tự nhiên hiện nay thường không chứa nhiều tinh bột hay cellulose trong thân cây.”

Sau hai năm nữa, khi tôi đến miền Nam nơi có khí hậu nhiệt đới, tôi sẽ tìm kiếm các giống chuối hoang dã để nhập khẩu về và lai tạo, thử nghiệm xem sao. Nếu thân cây của chúng chứa nhiều chất dinh dưỡng, thì có thể dùng để nuôi ngựa; còn nếu ngựa không ăn được, thì có thể dùng để nuôi bò; nếu chúng cho quả, thì có thể dùng để ăn cho mọi người… Dù sao cũng không lãng phí.

Hiện tại, vì chưa có cây chuối, tốt nhất là vẫn nên trồng thêm đậu trên các cánh đồng cỏ để cải thiện độ phì nhiêu của đất bằng cách cố định nitơ.

Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, t

Chu Cáp Kinh vừa hướng dẫn, vừa không ngừng bận rộn; ông ta bảo Thái Sử Tư điều mấy con ngựa Liêu Đông đến để mình thử cưỡi và chạy vài vòng, nhằm cảm nhận sự khác biệt giữa ngựa chiến Liêu Đông và các loại ngựa chiến từ những nơi khác thường được sử dụng trong quân đội của Lưu Bị.

Trải qua vài năm luyện tập, kỹ năng cưỡi ngựa của Chu Cáp Kinh đã tiến bộ rất nhiều; việc bắn cung cũng trở thành một hoạt động rèn luyện sức khỏe hiệu quả. Tuy nhiên, kỹ năng chiến đấu cận chiến của ông ta vẫn còn yếu kém. Sau khi thử cưỡi ngựa vài vòng, ông nhận ra rằng ngựa Liêu Đông có sức bứt phá không mạnh lắm, nhưng rất thích hợp cho việc cưỡi ngựa đi săn hay giao tranh nhỏ. Nếu muốn tăng tốc độ và trải nghiệm cảm giác hồi hộp, thì ngựa Tây Lương hoặc Tây Vực mới là lựa chọn phù hợp hơn.

Bên cạnh đó, Mi Trọng cũng tận dụng lúc Chu Cáp Kinh đang thử cưỡi ngựa để tiếp tục giới thiệu sâu hơn về công việc của mình:

“Mặc dù quy mô giao dịch trong hai tháng vừa qua không lớn, nhưng chúng ta vẫn thu được nhiều thành quả. Quận Thanh Châu Viên Đàn luôn có mối quan hệ thân thiện với chủ nhân; vào mùa thu năm ngoái, theo ý chỉ của chủ nhân, Nguyên Long đã bí mật liên lạc với Viên Đàn để họ xuất quân đến Lâm Y và giành lại bốn huyện từ tay Tào Tháo – đó chính là các huyện do Zang Ba kiểm soát.

Viên Đàn rất biết ơn chúng ta; vào tháng Chạp năm ngoái, họ đã đồng ý cho quân đội của chúng ta quản lý huyện Mậu Bình, nằm ở phía bắc bán đảo Sơn Đông (nay là Yantai). Huyện Mậu Bình này nằm đối diện với quần đảo Shamen và là một cảng biển lý tưởng. Nhờ có cảng trung chuyển này, việc vận chuyển hàng hóa quý giá của chúng ta trở nên thuận lợi hơn nhiều, giúp tiết kiệm được nhiều khoang tàu.

Tất cả những điều này đều nhờ vào công lao của Tử Nghĩa – khi lần đầu tiên mở đường giao thông thủy, ông ấy đã tiến hành tuần tra nhiều lần và tiêu diệt nhiều nhóm cướp biển Shamen do Guan Cheng dẫn đầu. Chính vì vậy, Viên Đàn mới đồng ý giao huyện Mậu Bình cho chúng ta quản lý, nhằm giúp loại bỏ những băng cướp còn sót lại dọc theo bờ biển.”

Gã cướp biển lớn nhất ở Thanh Châu, Guan Cheng, đã bị Triệu Vân giết chết hai năm trước khi Chu Gia Lượng đi sứ đến Hà Bắc. Tuy nhiên, lúc đó Triệu Vân không có thời gian để tiêu diệt hết những tàn dư của bọn cướp biển ở quần đảo Shamen, nên chúng vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ.

Lần này

Những ai sẵn lòng đầu hàng và trở thành thủy thủ thì sẽ được cải tạo rồi đi lính; những người không chịu thì sẽ bị giết ngay lập tức.

Chu Cáp Kinh Nghe vậy, ông liền nhìn Thái Sử Từ với ánh mắt ngưỡng mộ: “Cách làm của con quả thật nhanh gọn và dứt khoát.”

Thái Sử Từ đáp: “Đại tướng quá khen ngợi; chỉ là những việc nhỏ nhặt thôi, không đáng để bàn.”

Chu Cáp Kinh Tiếp tục hỏi Mi Trọng: “Vậy hàng hóa mà các ngươi dùng để mua ngựa chủ yếu là gì? Có phải theo kế hoạch ban đầu, các ngươi đã dùng tàu biển để trao đổi với Công Tôn Độ lấy ngựa chiến không?”

Mi Trọng đáp: “Tôi không nỡ sử dụng những con tàu biển mới này; tôi cũng lo rằng nếu công nghệ của những con tàu này bị tiết lộ ra ngoài, Công Tôn Độ sẽ trở nên quá mạnh và sau này sẽ khó có thể kiềm chế được họ ở vùng Bắc Hải. Vì vậy, chúng tôi chủ yếu sử dụng gốm xanh, thép… để buôn bán với họ.

Nhưng gốm xanh thì quá đắt đỏ; chỉ những người quyền quý mới có khả năng mua được. Hiện tại, khi sản phẩm này mới ra mắt, nó vẫn được bán rất chạy và được mọi người săn đón. Nhưng sau một năm rưỡi, khi những người giàu có ở Liêu Đông đã sử dụng hết gốm xanh, thì nó sẽ không còn được bán chạy nữa. Tôi vẫn đang suy nghĩ về những mặt hàng khác có thể hot trong tương lai.”

Chu Cáp Kinh nghe xong, liền cau mày: “Tại sao ngươi lại lo lắng về việc không thể kiềm chế được Công Tôn Độ chứ? Chỉ cần sau này chúng ta có những con tàu biển tốt hơn, liệu Công Tôn Độ có thể làm gì được chứ?

Tôi yêu cầu ngươi sử dụng những con tàu biển mới để buôn bán với họ, cũng là vì muốn thông qua việc tiết lộ công nghệ một cách có chọn lọc, khiến Công Tôn Độ phải tập trung vào việc ổn định vùng Đài Phương, thậm chí là các vùng phía nam như Tam Quan nữa!”

1/1 0%