lore

Chương 1359: Gió Tây thổi mạnh

9,945 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Là người đứng đầu bộ phận điều tra điện tử và truyền thông của quân đội, năng lực làm việc của Ngụy Đại Minh không cần phải nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, đôi khi việc có năng lực quá mạnh lại không hẳn là điều tốt, như hiện tại chẳng hạn.

Công ty “Đài Sơn” đã giải mã được các bức điện mật và nắm được thông tin về việc Nhật Bản sắp tấn công Trân Châu Cảng.

Đài Xuân Phong thật sự không biết phải cười hay khóc. Anh ta đã biết về chuyện này từ lâu rồi; thậm chí cả các hoạt động trinh sát của người Nhật ở Honolulu cũng do quân đội đứng ra chỉ đạo. Nhưng có những việc có thể nói ra mà không thể làm, và có những việc có thể làm mà không thể nói ra.

Kế hoạch ban đầu của Quốc Phủ là âm thầm kích động tình hình rồi đến giai đoạn cuối cùng mới tiết lộ thông tin cho người Mỹ để đạt được lợi ích. Ai ngờ lại xảy ra sự cố, và giờ đây họ gặp rất nhiều rắc rối.

Với khả năng bảo mật của Quốc Phủ, có lẽ thông tin này đã bị lộ rồi. Với việc không còn “vật chất đàm phán” nữa, làm sao họ có thể thương lượng với người Mỹ đây?

Xoa nhẹ hai bên thái dương đang đau nhức, Đài Xuân Phong đặt xuống báo cáo và thở dài: “Đại Minh, hãy kể cho tôi nghe chi tiết về tình hình này. Làm sao các bạn lại… à, có bao nhiêu người biết về chuyện này?”

Ngụy Đại Minh liếc nhìn Đài Xuân Phong một cái, cảm thấy như ông ấy đang trách móc mình. Tuy nhiên, anh vẫn ngay lập tức báo cáo quá trình giải mã, đồng thời đề cập đến một người.

“Báo cáo với lãnh đạo, chiến dịch giải mã này được thực hiện bởi công ty Đài Sơn phối hợp với phòng nghiên cứu của Bộ Quân chính. Giám đốc Trì của phòng nghiên cứu rất am hiểu tiếng Nhật và đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều.”

Trái tim Đài Xuân Phong như muốn tan vỡ. Nếu chỉ có công ty “Đài Sơn” tham gia vào việc này, có lẽ vẫn còn hy vọng. Nhưng Bộ Quân chính… đó quả là một “rổ lọc” lớn. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, số lượng thông tin mật bị rò rỉ từ Bộ Quân chính có thể đủ để chất đầy vài xe tải. Quân đội, như một người vá lỗ hổng, đã cố gắng vá đi vá lại, nhưng kết quả vẫn không như mong đợi; thông tin vẫn tiếp tục bị rò rỉ.

Còn về giám đốc Trì, Đài Xuân Phong cũng đã nghe nói đến người này. Ông ta là một học giả từng du học ở Nhật Bản và được Bộ trưởng Hoàng của Bộ Quân chính rất coi trọng.

Trong khi Đài Xuân Phong đang suy nghĩ như vậy, báo cáo của Ngụy Đại Minh vẫn tiếp tục. Anh ấy cho biết công việc nghiên cứu các bức điện mật của Nhật Bản bởi phòng nghiên cứu của Bộ Quân chính đã bắt đầu từ trước khi chiến tranh bắt đầu, nhưng tiến triển không mấy khả quan

Trong mã hóa tự nhiên, các ký tự, từ hoặc cụm từ trong văn bản gốc sẽ được thay thế thành những ký hiệu, chữ cái hoặc con số cụ thể, tạo thành văn bản được mã hóa.

Vì vậy, Giám đốc Trì đã phân chia từ đầu đến cuối các thông điệp mật của Bộ Ngoại giao Nhật Bản thành nhiều cặp ký tự, sau đó quan sát chúng để tìm ra một quy luật nào đó, nhằm hiểu rõ cách thức mã hóa cơ bản của những thông điệp này.

Sau nhiều nghiên cứu lâu dài, ông đã có một khám phá đáng ngạc nhiên: trong số những “cặp ký tự” này, có một vài cặp được sử dụng với tần suất đặc biệt cao. Ví dụ như MY, HL, GI… những cặp này xuất hiện thường xuyên trong các thông điệp.

Không chỉ có tần suất sử dụng cao, chúng còn thường xuyên kết hợp với nhau thành các nhóm ba, bốn ký tự, hoặc xuất hiện xen kẽ lẫn nhau.

Hiện tượng này khiến Giám đốc Trì bắt đầu suy ngẫm: những cặp ký tự phổ biến nhất này rốt cuộc có ý nghĩa gì? Chúng là dấu câu, hay là các trợ từ, từ vựng như “đi”, “rồi”, “không”, “một”, hay thậm chí là các con số Ả Rập?

Giám đốc Trì tiếp tục kiểm tra và phát hiện thêm rằng, số lượng những cặp ký tự này đúng bằng mười. Điều này cho thấy rằng, dù là ngôn ngữ nào đi nữa, cũng không thể có nhiều dấu câu được sử dụng liên tiếp; các từ vựng, trợ từ dù có tần suất sử dụng cao, nhưng hiếm khi xuất hiện cùng lúc hoặc kết hợp với nhau.

Do đó, khả năng những cặp ký tự như MY, HL, GI là dấu câu, từ vựng hoặc trợ từ đã bị loại trừ.

Theo phép chứng minh bằng phản chứng, thì chỉ còn một khả năng duy nhất: những cặp ký tự này thực chất là mã để biểu thị các con số từ 0 đến 9.

Nếu có thể xác định được cặp nào tương ứng với con số 1, cặp nào tương ứng với con số 2, thì việc tìm ra quy luật kết hợp giữa chúng sẽ trở nên dễ dàng hơn, và việc giải mã chúng chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Nghe đến đây, Đài Xuân Phong không khỏi ngưỡng mộ: cách suy luận giải mã của Giám đốc Trì rất rõ ràng và có tính logic cao; quả thực ông xứng đáng được gọi là “chuyên gia điện tử hàng đầu” của Bộ Quân chính.

Nhưng vấn đề là, mười cặp mã này tương ứng với những con số nào cụ thể? Hơn nữa, một bản thông điệp mật không thể chỉ toàn là con số; chắc chắn vẫn còn những nội dung văn bản khác nữa. Dựa vào kinh nghiệm làm việc trước đây của Tổ chức Quân sự Độc lập, phần nội dung văn bản này mới chính là thông tin có giá trị thực sự.

Ngụy Đại Minh gật đầu; đây cũng chính là điều mà ông ngưỡng mộ nhất ở Giám đốc Trì. Bằng

Dựa trên giả thuyết này, Giám đốc Trì đã đặt các tổ hợp chữ cái được sử dụng thường xuyên nhất vào mức 1, và những tổ hợp có tần suất sử dụng thấp nhất vào mức 9.

Ngoài ra, vì số 0 thường hiếm khi xuất hiện ở đầu các con số trong mã điện báo, nên các tổ hợp chữ cái không thường xuất hiện ở đầu các thông điệp điện báo đã được quy định là số 0.

Như vậy, ba con số 1, 9, 0 đã được giải mã ban đầu, và việc xác định được ba điểm chuẩn này đã mở đường cho bước tiếp theo trong quá trình giải mã.

Đài Xuân Phong nghe càng lúc càng say mê và ra hiệu cho Ngụy Đại Minh ngồi xuống. Ngụy Đại Minh cúi đầu nhẹ rồi cẩn thận ngồi xuống ghế và bắt đầu kể tiếp quá trình giải mã. “Giám đốc Trì cho rằng, sau mỗi cuộc chiến lớn, các con số trong các thông điệp mật của Nhật Bản rất có thể đại diện cho số hiệu đơn vị quân đội, số lượng binh sĩ, lượng vũ khí đạn dược, ngày tháng, v.v. của cả hai bên.

Phòng nghiên cứu đã chọn một thông điệp mật của quân đội Nhật Bản có thể liên quan đến thông tin về Sư đoàn 102 của quân đội Trung Quốc để kiểm chứng kết quả giải mã trước đó, xem liệu các tổ hợp chữ cái đại diện cho số 1 và 0 có xuất hiện liên tiếp hay không.

Kết quả không ngoài dự đoán, điều này chứng minh rằng suy luận của Giám đốc Trì là chính xác. Các tổ hợp chữ cái đại diện cho số 2 cũng được xác định rõ ràng, và các con số còn lại cũng dễ dàng được suy đoán ra.

Ngoài ra, sau số hiệu đơn vị quân đội trong các thông điệp điện báo thường có các từ dài hoặc từ chỉ đơn vị, ví dụ như “Sư đoàn 102” hoặc “Bộ Tư lệnh Sư đoàn 102”. Nhờ đó, hai chữ cái đại diện cho những từ này cũng được giải mã ra.

Tuy nhiên, phương pháp giải mã này tốn nhiều thời gian và công sức, và cũng dễ mắc sai lầm. Vì vậy, Giám đốc Trì đã bắt đầu tìm một phương pháp giải mã mới dựa trên cách đọc tiếng Nhật.

Tiếng Nhật có mười trợ từ, và do chúng được sử dụng rất thường xuyên, Giám đốc Trì đã nhanh chóng tìm ra chúng trong các thông điệp mật. Ngoài ra, ông còn dự đoán ra các từ liên quan dựa trên thói quen sử dụng từ ngữ trong tiếng Nhật.

Ví dụ, ở cuối các thông điệp điện báo của quân Nhật, thường có câu “フkêウ” (xin hãy trả lời điện thoại). Dựa vào vị trí của trợ từ này, các mã điện báo đại diện cho “trả lời”, “điện thoại” và “xin” cũng sẽ trở nên rõ ràng.

Theo hướng suy nghĩ này, bằng cách phân tích các thông điệp mật của phía Nhật Bản diễn ra cùng một thời điểm và cùng một không gian, chúng ta cũng có thể tìm ra những điểm chung trong nội dung các thông điệp đó.”

Lời giải thích của Ngụy Đại Minh rất dễ hiểu. Ví dụ, đối với các đ

Bên kia, Ngụy Đại Minh nói rằng thông qua các biện pháp giải mã trên, Giám đốc Trì đã phát hiện ra rằng các bức điện mật của Bộ Ngoại giao Nhật Bản thường bắt đầu bằng chữ “LA”, được gọi tắt là “mã LA”, và trong đó có nhiều từ ngữ ẩn dụ liên quan đến quan hệ quốc tế.

“Gió tây thổi mạnh” có nghĩa là quan hệ với Mỹ đang căng thẳng;

“Phía bắc quang đãng” cho thấy quan hệ với Liên Xô đang được cải thiện;

“Phía đông nam có mưa” ám chỉ tình hình chiến sự của nước Cộng hòa Trung Hoa đang khó khăn;

“Con gái trở về nhà mẹ” có nghĩa là việc triệu hồi công dân.

Thành tựu lớn lao của phòng nghiên cứu thuộc Bộ Quân chính trong việc giải mã các bức điện mật của Nhật Bản đã thu hút sự chú ý của Ngụy Đại Minh, và hai bên đã bắt đầu hợp tác với nhau. Hai cơ quan này đã nhiều lần trao đổi thông tin và phát hiện ra rằng Quốc Phủ đang ngày càng tiến sâu hơn trong việc giải mã các bức điện mật của Nhật Bản.

Hai ngày trước, Giám đốc Trì đã thành công trong việc chặn đón một bức điện mật do Bộ Ngoại giao Nhật Bản gửi đến đại sứ quán Nhật Bản tại Mỹ. Bức điện gồm ba nội dung chính:

1. Chính phủ Đế quốc quyết định thực hiện các biện pháp quyết liệt theo quyết định của Hội nghị Hoàng gia, với tên mã “Kế hoạch Z”.

2. Sau khi Kế hoạch Z thành công, đại sứ quán sẽ ngay lập tức đốt hủy tất cả các cuốn sổ mật khẩu, chỉ giữ lại những cuốn sổ mật khẩu thông thường, đồng thời đốt hủy mọi tài liệu mật.

3. Cố gắng thông báo cho các người gửi tiền biết để họ chuyển số tiền của đại sứ quán sang các ngân hàng của các quốc gia trung lập.

Nhìn thấy bức điện mật, Giám đốc Trì và Ngụy Đại Minh đã nghĩ đến một điều: trước trận Chiến Sông Đào Húc, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã gửi các bức điện mật yêu cầu các đại sứ quán của Nhật Bản tại Trung Quốc đốt hủy các cuốn sổ mật khẩu.

Dựa trên những thông tin trên, hai người suy luận rằng cuộc chiến giữa Nhật Bản và Mỹ đã không thể tránh khỏi, và Nhật Bản rất có thể sẽ tiến hành cuộc tấn công bất ngờ vào Mỹ, địa điểm có thể là Honolulu.

Có hai bằng chứng chính:

Một là sau tháng 5 năm 1941, số lượng các bức điện mật trao đổi giữa Bộ Ngoại giao Nhật Bản và đại sứ quán tại Hawaii đột nhiên tăng lên, và nội dung của chúng cũng chuyển từ các thông tin thương mại của người Nhật Bản ở Trung Quốc sang những thông tin có mức độ mật cao hơn.

Hai là những bức điện mật này chứa đầy thông tin quân sự; Bộ Ngoại giao Nhật Bản nhiều lần hỏi đại sứ quán về ngày nào trong tuần có nhiều tàu chiến nhất ở Pearl Harbor, và câu trả lời luôn là Chủ nhật.

Qua việc phân tích vô số thông tin lộn xộn, Giám đốc Trì và Ngụy Đại Minh k

1/1 0%