lore

Chương 1002: Hãy đợi thêm một chút nữa.

9,679 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Đài Xuân Phong nghe lời suy luận của Tả Trọng rằng trận chiến giữa Nga đỏ và Nhật Bản tại Nomonhan sẽ không kéo dài lâu, vẫn còn chút hy vọng trong lòng và hỏi một cách mong đợi:

“Không thể nào được… Người Nhật và Sa Hoàng đã có mối thù sâu sắc từ những trận chiến ở Đông Bắc và Biển Hoàng Hải trước đây; lần này họ chắc chắn sẽ ra sức để trả thù.”

Hơn nữa, trước đó Nga đỏ đã hỗ trợ Quốc Phủ rất nhiều vũ khí mới, khiến kế hoạch của người Nhật tại thành phố Zha thành bị phá hỏng; vì vậy, trận chiến chắc chắn sẽ không kết thúc vội vàng đâu.

Tả Trọng chỉ biết cười đau lòng trong lòng và buộc phải nói ra những gì mình nghĩ, nhấn mạnh rằng lợi ích chính của Nga đỏ là ở châu Âu, chứ không phải ở khu vực Đông Á – nơi mà họ coi như không quan trọng.

Nghe xong, Đài Xuân Phong cảm thấy thất vọng, ngồi xuống ghế và thở dài; rõ ràng anh ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi tin “xấu” này, và cũng không biết phải giải thích thế nào cho ai đó.

Hiện tại, toàn bộ Quốc Phủ đang reo hò mừng chiến tranh giữa Nhật Bản và Nga; nếu anh ta công bố chuyện này vào lúc này, không những không nhận được lợi ích gì, mà còn bị coi là có ý đồ xấu xa.

Mọi người đều nghĩ đây là điều tốt; chỉ có Đài Xuân Phong thông minh lại muốn “đổ nước lạnh” vào niềm vui đó… Hành động này, nếu nhẹ thì gọi là sợ địch, còn nặng thì gọi là làm xáo trộn tinh thần quân đội.

Đài Xuân Phong hiểu rõ cái gọi là “biết giữ mình”, và lúc này anh ta rất đắn đo, không biết liệu có nên báo cáo lên trên hay không… Nếu báo cáo, rất dễ gây phiền toái cho người khác; còn nếu không báo cáo, thì đó lại là trách nhiệm của mình.

Nhận thấy sự do dự của Đài Xuân Phong, Tả Trọng nhẹ nhàng gợi ý: “Thầy ơi, theo em nghĩ, dù người Nhật và Nga đỏ chiến đấu bao lâu, kết quả ra sao đi nữa, chúng ta cũng cần phải làm gì đó… Giống như thầy vừa nói, họ có những mâu thuẫn lịch sử; đây chính là cơ hội… Liệu chúng ta có thể tận dụng điều này để khiến cuộc chiến giữa hai bên kéo dài hơn không?”

Anh ta tận dụng cơ hội này để đưa ra ý kiến của mình: muốn cho tổ chức tình báo kích động tình hình, thì cần phải có sự đồng ý của Đài Xuân Phong hoặc các cấp cao hơn; dù sao đi nữa, việc này cũng liên quan đến chiến lược tổng thể của quốc gia.

Nghe xong lời của Tả Trọng, Đài Xuân Phong cảm thấy xúc động nhưng không vội vàng đưa ra quyết định, bởi vì danh tiếng quốc tế chính là điều mà người đó quan tâm nhất… Anh ta suy nghĩ mãi rồi mới lắc đầu:

“Nga đỏ rất qu

Tình hình ở Nga đỏ thực sự rất đặc biệt, chúng ta không thể can thiệp được. Tôi không đưa ra yêu cầu nào, nhưng chúng ta đã điều động khá nhiều người ở phía Nhật Bản; việc di chuyển các đơn vị cấp liên đoàn là điều chúng ta cần phải nắm rõ.

Cứ chờ đợi mãi thế này… Chờ đến khi nào mới được? Phải đợi đến lúc Nhật Bản và Nga đỏ đạt được thỏa thuận, không còn gì lo ngại nữa, sau đó mới điều Quan Đông quân vào trong đất liền để hành động sao? Lúc đó thì đã quá muộn rồi.

Tả Trọng mở miệng nhưng cuối cùng lại không nói gì, chỉ cúi chào rồi rời khỏi văn phòng của Đài Xuân Phong. Anh ấy biết rằng bây giờ nói gì cũng vô ích, chỉ có thể chờ đợi diễn biến của tình hình chiến sự mà thôi.

Cuộc chờ đợi kéo dài đến cuối tháng Năm; từ khi đội tuần tra của Nhật Bản tiến vào khu vực Mông Cổ rồi rút lui, đã trôi qua nửa tháng, và cả hai bên Nhật Bản lẫn Nga đỏ đều đã sẵn sàng cho một trận chiến lớn nữa.

Nhật Bản đã tập trung hơn 1.000 binh sĩ thuộc Liên đoàn 64 của Sư đoàn 23, 200 binh sĩ thuộc đội tuần tra, 450 kỵ binh thuộc Lữ đoàn Cảnh sát Kỵ binh khu vực Bắc Hinggan, cùng với một số máy bay và pháo binh.

Theo lý thuyết, Quan Đông quân không nên chỉ điều động số lượng quân sĩ ít ỏi như vậy; nhưng sau trận chiến ở Zhanggufeng, toàn bộ quân đội Nhật Bản đều cho rằng quân đội Nga đỏ sau khi bị “rửa sạch” bởi Đại Thanh thì đã trở thành một đám yếu ớt, không đáng sợ chút nào.

Rõ ràng, người Nhật đã đánh giá cao quá sức mình và đánh giá thấp ý chí chiến đấu của Nga đỏ; họ luôn nghĩ rằng quân đội Nga đối diện vẫn giống như quân đội Sa Hoàng thời Chiến tranh Nhật-Nga.

Nhưng thực tế, ngay cả quân đội Sa Hoàng cũng đã khiến quân đội Nhật Bản phải chịu những tổn thất nặng nề; huống chi lần này, quân đội Nga đối diện lại là một đội quân hiện đại, được công nghiệp hóa và có niềm tin sâu sắc vào chiến đấu.

Quân đội Nga đông Dương không chỉ được trang bị nhiều máy bay và pháo binh mà còn có nhiều xe tăng và xe bọc thép cỡ trung; trong khi đó, quân đội Nhật Bản chỉ sử dụng các loại xe tăng và xe bọc thép cỡ nhẹ.

Theo thông tin do các nhân viên tình báo của quân đội thu thập được ở Đông Bắc, sau cuộc xung đột trước đó, tổng số quân sĩ của liên quân Nga-Mông đã lên đến 57.000 người, được trang bị hơn 1.000 xe bọc thép và hơn 500 khẩu pháo các loại.

So với đó, dù quân đội Nhật-Bản có ưu thế về số lượng quân sĩ với hơn 75.000 người, nhưng họ chỉ có khoảng 180 xe tăng và chưa đầy 500 khẩu pháo; ở ti

Ở một số khu vực có địa hình gồ ghề, xe tăng, xe bọc thép và gia súc đều khó có thể di chuyển được, điều này khiến cho hệ thống vận tải hậu cần của quân Nhật, vẫn còn phụ thuộc vào ngựa và lạc đà, gặp rất nhiều khó khăn.

Trong khi đó, bên bờ tây do Hồng Quốc kiểm soát cao hơn mực nước sông ít nhất 50 mét; quân pháo binh Hồng Quốc đã đặt các tiền đồn trên những cao nguyên này, tận dụng triệt để lợi thế về địa hình để nã pháo mãnh liệt vào các đội quân Nhật đi qua.

Phía quân Nhật hoàn toàn không thể nhìn thấy tình hình của quân đội Hồng Quốc trên những cao nguyên đó, chỉ có thể chịu đựng những đòn tấn công từ phía trên. Điều này buộc quân Nhật phải rút lui để tránh bị pháo kích, và đây chính là cơ hội mà quân Hồng Quốc tận dụng.

Theo các ghi chép lịch sử và thủy văn địa phương, sông Halaha rộng khoảng 30 đến 40 mét, sâu khoảng 2 mét, với tốc độ dòng chảy khoảng 1 mét/giây. Chỉ cần có phương tiện vượt sông, việc các đội quân vượt sông sẽ không gặp khó khăn gì.

Tuy nhiên, quân Quan Đông quân Nhật không hề ngu dại; để ngăn chặn quân Hồng Quốc lén lút vượt sông, họ đã triển khai một số đội kỵ binh giả mạo trong khu vực chiến sự rộng lớn để theo dõi di chuyển của quân đội Hồng Quốc ở bên kia sông. Dù sao thì nếu xảy ra chuyện gì, chết cũng chỉ là những người thuộc đội kỵ binh giả mạo mà thôi; Nhật Bản không cần phải bỏ ra bất kỳ chi phí nào, ngoài việc trao một hoặc hai huy chương bằng thép để cổ vũ tinh thần binh sĩ… Rõ ràng đây là một phi vụ có lợi nhuận.

Tất nhiên, phía Nhật Bản cũng có những ưu thế riêng: hầu hết các hồ nước ở hai bên sông Halaha đều là hồ nước mặn, nhưng quân Nhật lại có sông Khalsudin làm nguồn cung cấp nước uống cho các đội quân, nên nguồn nước rất dồi dào.

Ngược lại, phía Mông Cổ thì thiếu hụt nguồn nước rất nghiêm trọng; sông Halaha nằm ở trung tâm khu vực chiến sự, nên việc lấy nước rất khó khăn. Quân Hồng Quốc phải dựa vào các giếng nước để cung cấp nước uống, và khoảng cách giữa các giếng nước có thể lên đến 40 đến 50 kilômét.

Hơn nữa, tuyến đường tiếp tế của quân Hồng Quốc dài khoảng 750 kilômét, trong khi đó tuyến đường tiếp tế của quân Quan Đông quân chỉ dài 200 kilômét. Các sĩ quan tư lệnh của quân Quan Đông quân cho rằng, khi tiến hành các cuộc chiến lớn, độ dài của tuyến đường tiếp tế bộ đội trên đất liền thường không nên vượt quá 200 đến 250 kilômét.

Vì vậy, những người thông minh này, những người đeo huy hiệu tốt nghiệ

Quân đội Nhật–Phản động được chia thành ba đội hình để tiến hành cuộc tấn công phản kích vào Sư đoàn kỵ binh thứ sáu. Các lực lượng hai bên nhanh chóng giao tranh trên cánh đồng cỏ, và những kỵ binh Mông Cổ, luôn sống trên lưng ngựa suốt nhiều năm, sở hữu sức chiến đấu vô cùng mãnh liệt.

Họ đã sử dụng những loạt bắn chính xác và khả năng chịu đựng xuất sắc của loại ngựa Mông Cổ để chặn đứng cuộc phản kích của quân Nhật ở bờ đông sông Halaha, và sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng với lửa pháo dữ dội, họ đã chờ đợi sự viện của quân đội Liên Xô đỏ.

Thấy tình hình không mấy thuận lợi, Lữ đoàn kỵ binh và đơn vị xe tăng của Sư đoàn 23 quyết định liều lĩnh xâm nhập sâu vào phía sau trận địa quân Mông Cổ để tấn công bất ngờ vào trụ sở chỉ huy của họ, và họ đã thành công một cách ngoạn mục.

Đáng tiếc là do các chỉ huy quân Nhật không ra lệnh cho đơn vị rút lui kịp thời, họ lại bị đơn vị xe tăng của quân đội Liên Xô đỏ đến tiếp viện bao vây. Khi giao tranh bắt đầu, Quan Đông quân đã phải trải qua sức mạnh áp đảo của quân đội Liên Xô đỏ.

Các xe tăng của quân Nhật được trang bị không khác gì những cái thùng sắt mỏng manh, hoàn toàn không thể đối đầu nổi với xe tăng của Liên Xô đỏ, và chúng nhanh chóng bị phá hủy.

Chỉ với một liên đoàn xe tăng phun lửa và một trung đoàn xe tăng, quân đội Liên Xô đỏ và Mông Cổ đã dễ dàng tiêu diệt hoàn toàn đội quân tấn công nhanh này của quân Nhật; chỉ có một số kỵ binh Nhật thoát khỏi vòng vây và bỏ chạy.

Dưới sự tấn công đa lực lượng của quân đội Liên Xô đỏ, đặc biệt là khi ngày càng nhiều xe tăng của họ qua sông, quân đội Nhật–Phản động nhanh chóng rơi vào tình trạng thất bại thảm hại. Lực lượng kỵ binh Phản động tan rã hoàn toàn, và các đội tuần tra đều bị tiêu diệt.

Lữ đoàn 64 của Sư đoàn 23 đã thành công trong việc thoát khỏi vòng vây, nhưng tỷ lệ thương vong cũng lên tới 20%. Theo quan điểm của quân sự phương Tây, đội quân này gần như mất hết khả năng chiến đấu.

Theo thông tin từ nhóm Phù Linh ở Tokyo, tổng số quân đội Nhật–Phản động tham gia trận chiến này là 2500 người, trong đó khoảng 1500 người thực sự tham gia giao tranh; hàng trăm người đã thiệt mạng, hàng trăm người bị thương, và hơn mười người mất tích.

Điều khiến mọi người ngạc nhiên là quân đội Liên Xô đỏ, dù chiếm ưu thế hoàn toàn, cũng gặp phải nhiều thương vong; thậm chí Tư lệnh Sư đoàn kỵ binh thứ 6 của quân Mông Cổ và Trưởng phòng tác chiến của Lữ đoàn xe tăng thứ 9 của Liên Xô đỏ cũng đã hy sinh trong trận chiến này.

Sau trận chiến này, Nhật Bản và Liên Xô đề

1/1 0%