lore

Chương 1224: Không đề

11,873 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Vị trí phụ, đây là điện báo từ Đại Hùng.”

“Ồ? Cho xem nào.”

Ngày hôm sau khi Bạch Vấn Chi mời tất cả các điệp viên của Quân đội Đồng nhất tham dự bữa tiệc, Hà Dịch Quân bước vào văn phòng của Tả Trọng và mang theo một bức điện báo mật.

Do tầm quan trọng của Đại Hùng, tất cả các thông điệp liên quan đến ông ta đều không được chuyển qua đường dây điện tử của Quân đội Đồng nhất, mà được gửi và nhận thông qua đài phát thanh độc lập của Hà Dịch Quân. Điều này nhằm ngăn người khác có thể suy luận ra danh tính thực sự của Nagata Ryosuke thông qua thời gian và tần suất gửi nhận thông điệp.

Sau khi Hà Dịch Quân rời đi, Tả Trọng lấy cuốn sổ mật mã ra để giải mã bức điện báo dài hơn bình thường nhiều. Sau một thời gian, những dòng chữ hiện lên trên trang giấy điện báo.

Nhìn nội dung bức điện báo, biểu cảm của ông ta lúc đầu là không hiểu, sau đó là hoài nghi, và cuối cùng ông ta vung tay đập vào bàn và chửi thề dữ dội nhắm vào Nagata Ryosuke – kẻ ngu ngốc đó.

“MD! Cái đồ này tưởng ta là ai chứ, là lính đánh thuê à, hay là kẻ điên giết người!”

Trong điện báo, Nagata Ryosuke đã báo cáo một tin tức và đưa ra một yêu cầu. Tin tức là Nhật Bản đang liên minh với Đức và Ý, và có khả năng họ sẽ tấn công Hawaii, bờ tây nước Mỹ, và Đông Nam Á. Nhiệm vụ trinh sát tại Hawaii sẽ do cơ quan của Nagata đảm nhận.

Còn về yêu cầu, Nagata Ryosuke muốn triệu hồi hai điệp viên Nhật Bản đang ngầm tại Sơn Thành về, và hy vọng Tả Trọng sẽ giết chết họ trên đường trở về, đồng thời cử các điệp viên xuất sắc của Quân đội Đồng nhất thay thế họ thực hiện nhiệm vụ trinh sát. Để đổi lấy điều này, ông ta sẵn lòng trả mười vạn đô la Mỹ.

Thật là đảo lộn trắng đen!

Một điệp viên Nhật Bản đã đổi phe lại còn chỉ huy Quân đội Đồng nhất nữa!

Điều này có nghĩa là gì?

Là “con rể nuốt chửng chủ nhà” sao?

Biểu cảm trên khuôn mặt Tả Trọng lúc lúc u ám, lúc lúc lại trở nên bình tĩnh trở lại. Việc Nhật Bản tấn công Hawaii là điều chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng việc tấn công bờ tây nước Mỹ có lẽ chỉ là chiêu trò dụ địch, bởi vì khoảng cách quá xa. Ngay cả đối với Đông Nam Á, Nhật Bản cũng sẽ chờ đến khi Hạm đội Thái Bình Dương tại Pearl Harbor bị tiêu diệt mới bắt đầu hành động.

Vậy thì có nên giúp Nagata Ryosuke không?

Câu trả lời là chắc chắn phải giúp, bởi vì việc Nhật Bản và Mỹ xảy ra chiến tranh không chỉ có lợi cho nước Cộng hòa Trung Hoa, mà lợi ích còn rất lớn nữa.

Nhật Bản là một đảo quốc, các nguồn tài nguyên của họ cực kỳ khan hiếm, như

Tình hình của ngành công nghiệp thép cũng tương tự. Hiện nay, một phần nguyên liệu thô công nghiệp của Nhật Bản đến từ các mỏ sắt ở Bắc Cao Ly và khu vực Đông Bắc, còn phần khác được sản xuất bằng cách đúc lại “thép phế” do Mỹ xuất khẩu.

Nếu Nhật Bản và Mỹ xảy ra chiến tranh, những kẻ buôn bán xấu xa của Mỹ dù không muốn đi nữa cũng sẽ phải ngừng cung cấp “thép phế” và dầu mỏ cho Nhật Bản; như vậy, máy móc chiến tranh của bọn chúng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn cung cấp.

Hơn nữa, với sức mạnh công nghiệp vượt trội của Mỹ, sau khi chiến tranh bùng nổ, Quốc Phủ chắc chắn sẽ nhận được nhiều lợi ích từ nước này, như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Vì vậy, việc giúp Chàng Cát Liang Giáp đi điều tra về Pearl Harbor là có lợi cho quốc gia. Điều kiện tiên quyết là phải thuyết phục được Ông Đài và Kẻ Đầu Trọc – một chiến dịch chiến lược quan trọng như vậy chắc chắn cần phải được báo cáo lên cấp trên.

Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, Tả Trọng cho bản gốc và bản dịch thông điệp mật vào túi, rồi đứng dậy đi đến văn phòng của Đài Xuân Phong để gặp thầy của mình.

Khi anh đến nơi, Đài Xuân Phong đang xem xét các tài liệu. Thấy đệ tử cưng đến, ông mỉm cười mời anh ngồi xuống trước, sau đó mới hoàn thành công việc đang làm và bước đến gặp anh.

“Thầy ơi.”

Nhìn thấy vậy, Tả Trọng đặt chiếc cốc trà xuống, đứng dậy và chào hỏi nhẹ nhàng, đồng thời rót cho thầy mình một tách trà nóng.

Đài Xuân Phong gật đầu, nhấc nắp cốc và nhấc nhẹ lớp bọt trên mặt trà, rồi hỏi một cách thăm dò:

“Thận Chung, có chuyện gì à?”

Không lãng phí thời gian, Tả Trọng ngay lập tức đưa bản thông điệp của Chàng Cát Liang Giáp cho thầy. Việc có nên đồng ý với yêu cầu của Đại Hùng hay không là quyết định của cấp trên; anh chỉ là một người nhỏ bé, không thể tự mình quyết định được.

Đài Xuân Phong tò mò nhận lấy thông điệp mật và đọc nó. Khi biết được âm mưu của Nhật Bản nhằm tấn công Mỹ, khuôn mặt ông liền thay đổi từng chút một – tin tức này thực sự quá đáng ngạc nhiên.

Làm sao người Nhật có đủ can đảm để đối đầu với Mỹ, quốc gia công nghiệp số một thế giới? Với những thứ mà bọn chúng có, thì chẳng đủ để làm gì cả.

Mất một lúc lâu, Đài Xuân Phong mới bình tĩnh trở lại và hỏi:

“Thận Chung, mức độ tin cậy của thông tin này cao không? Có thể đây chỉ là một thủ đoạn mà người Nhật sử dụng để kiểm tra Chàng Cát Liang Giáp không?”

Là người đã đứng đầu cơ quan tình báo nhiều năm, trước một thông tin quan trọng như vậy, phản ứng đầu tiên của Đ

Quý vị cũng đã thấy rồi đấy, Nhật Bản sắp bí mật liên minh với Đức và Ý; việc làm này giúp họ chứng tỏ sức mạnh và thiện chí của mình trước những đồng minh tương lai.

  Đài Xuân Phong nhớ lại các trận chiến như Trận Chiến Mã Châu, Trận Hải Chiến Đối Mã, và Cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, và nhận ra rằng người Nhật thực sự rất thích đánh cược số phận quốc gia của mình vào những cuộc chiến như vậy.

  Tuy nhiên, ông vẫn không thể hoàn toàn tin vào thông tin đó; ông lo lắng rằng thỏa thuận liên minh này có thể chỉ là tin giả do kẻ thù tung ra, và bất cứ khi nào thỏa thuận chưa được công bố chính thức, mọi thứ vẫn có thể thay đổi.

  Chết tiệt… Lão Đài, đừng nghi ngờ quá mức như vậy đi; liệu các sách sử sau này có phải là giả dối không?

  Trong lòng mắng mỏ một câu, Tả Trọng suy nghĩ kỹ lưỡng và quyết định bắt đầu từ những thông tin đã được xác nhận để thuyết phục Đài Xuân Phong.

  “Thầy ơi, thực ra điều này đã có dấu hiệu từ trước rồi; đây không phải là ý tưởng đột nhiên của người Nhật. Dưới áp lực từ các cường quốc châu Âu và Mỹ, Nhật Bản, Đức và Ý đã có sự liên kết với nhau từ lâu rồi.

  Vào năm thứ 25 của nền Cộng hòa Trung Hoa, Đức và Ý đã ký Hiệp ước Liên minh Berlin-Roma; năm ngoái, hai nước này lại ký thêm “Hiệp ước Liên minh Đức-Ý”.

  Nhật Bản cũng đã ký Thỏa thuận Chống Nga với Đức vào năm thứ 25 của nền Cộng hòa Trung Hoa, và Ý cũng tham gia vào năm sau; ba bên đều nhấn mạnh sự hợp tác chặt chẽ với nhau.

  Nhật-Bản-Ý đã trở thành những đồng minh thực sự, và việc ký kết thỏa thuận liên minh lần này chỉ là để công khai mối quan hệ đó mà thôi.”

  Nghe lời giải thích của Tả Trọng, Đài Xuân Phong im lặng không nói gì nữa; dù không muốn tin, ông cũng hiểu rằng điều mà nền Cộng hòa Trung Hoa đã cố gắng tránh khỏi – liên minh Nhật-Bản – cuối cùng vẫn đã xảy ra.

  Đức trong thời gian dài đã là đồng minh “ẩn danh” của nền Cộng hòa Trung Hoa, cung cấp cho Quốc Phủ rất nhiều thiết bị công nghiệp, vũ khí, giúp quân đội xây dựng các nhóm tư vấn quân sự hiện đại, và thiết kế nhiều cơ sở phòng thủ; mối quan hệ giữa hai bên từng rất thân thiết.

  Xét từ mọi góc độ, Sơn Thành đều không muốn thấy Đức và Nhật Bản hợp tác với nhau; điều này sẽ tạo ra một mối nguy lớn đối với an ninh quốc phòng của nền Cộng hòa Trung Hoa.

  Nhưng khi mọi chuyện đã đến mức này, việc Quốc Phủ vẫn hy vọng duy trì mối quan hệ tố

Nếu như hành động này gặp phải sai sót và làm tổn thương đến người Mỹ, tình hình đã khó khăn của nước Cộng hòa Dân quốc sẽ càng trở nên tồi tệ hơn, và lúc đó họ chính là những kẻ có tội với dân tộc mình.

Đối mặt với Đài Xuân Phong vẫn còn do dự, Tả Trọng quyết định nói thêm một số lời, dùng tình hình quốc tế để chứng minh rằng cuộc chiến giữa Nhật Bản và Mỹ là điều không thể tránh khỏi, nhằm xua tan những lo ngại của ông ấy.

“Thầy ơi, vì lo sợ bị Mỹ cắt đứt nguồn cung cấp dầu mỏ và các nguyên liệu khác, Nhật Bản đã thực hiện chính sách tự cung tự cấp trong công nghiệp từ hai năm trước, nhằm loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào Mỹ. Báo chí Nhật Bản liên tục tuyên truyền cho công chúng, ngay cả trẻ em ở trường học cũng biết về âm mưu kết thông giữa bốn quốc gia ABCD (Mỹ, Anh, Cộng hòa Dân quốc, Hà Lan) nhằm độc quyền các nguồn tài nguyên và siết chặt ách đe dọa đối với Đế quốc Nhật Bản.”

“Vào tháng 6 năm nay, Nhật Bản yêu cầu chính phủ Vichy mới được thành lập ở Pháp phê duyệt việc quân đội Nhật Bản thực hiện nhiệm vụ tại Đông Dương thuộc Pháp, đồng thời đảm bảo nguồn cung cấp vật tư quân sự cho Quần đảo Đông Ấn. Tháng trước, phía Tokyo thậm chí còn đe dọa London rằng nếu Anh không rút quân khỏi Thượng Hải và không đóng cửa Con đường Biển Đen – Miến Điện, Nhật Bản sẽ tuyên chiến với Anh. Những thông tin này, thầy hẳn đã biết rồi.”

Tả Trọng trình bày lại những thông tin mà các trạm tình báo ở Đông Nam Á và Châu Âu đã gửi về, nhìn thẳng vào mắt Đài Xuân Phong, tiếp tục kiên nhẫn thuyết phục ông ấy.

“Còn về phía Mỹ, vào tháng 7, Tổng thống Roosevelt đã ký ban hành Đạo luật Quốc phòng, trong đó điều 6 quy định rõ rằng khi cần thiết, chính phủ có thể cấm xuất khẩu một số loại hàng hóa. Nhiều mặt hàng như thép phế, dầu thô, các thiết bị công nghiệp dân dụng tiên tiến đều nằm trong danh sách bị kiểm soát. Điều này chính là cách Mỹ công khai cảnh báo Nhật Bản không được khiêu khích Anh, Mỹ và Pháp.”

“Đến tháng này, một phần của Hạm đội Thái Bình Dương đóng ở Nam California đã được chuyển đến Trân Châu Cảng ở Hawaii, và Quốc hội Mỹ cũng đã thông qua đề xuất thành lập Hạm đội Hai Đại dương. Đề xuất này về mặt pháp lý đã xác định rõ tính hợp pháp của sự tồn tại của các hạm đội Thái Bình Dương và Đại Tây Dương của Mỹ, đồng thời ủy quyền cho Hải quân tăng tốc xây dựng các tàu chiến mới – rõ ràng đây là những bước chuẩn bị cho chiến tranh.”

“Người Nhật Bản rất hiể

Vào tối hôm đó, Đài Xuân Phong trở về trụ sở quân đội với vẻ mặt mệt mỏi và gọi Tả Trọng đến. Ông không nói thêm điều gì khác, chỉ nói một câu duy nhất:

“Thận Chung, người đứng đầu đã giao cho cậu toàn quyền phụ trách việc này. Cậu có quyền tự quyết trong mọi tình huống, được phép sử dụng mọi lực lượng của Quốc Phủ để hỗ trợ Đại Hùng hoàn thành nhiệm vụ.”

“Việc này phải được giữ bí mật tuyệt đối. Số người biết thông tin chỉ nên được giới hạn ở mức tối thiểu. Hy vọng của đất nước đang nằm trên vai cậu; chúng ta tuyệt đối không được để xảy ra bất kỳ sự cố nào.”

Chiều hôm đó, chỉ một giờ sau khi Đài Xuân Phong gặp gỡ một người nào đó, Hội nghị Quốc phòng cấp cao đã tổ chức một cuộc họp bí mật khẩn cấp tại dinh thự ở Hoàng Sơn. Chủ đề của cuộc họp là thảo luận về lợi ích và rủi ro khi Mỹ tham gia chiến tranh.

Sau một thời gian thảo luận ngắn gọn, các thành viên tham dự đều đồng ý rằng việc Mỹ tham gia chiến tranh mang lại nhiều lợi ích mà không hề gây hại gì cho quốc gia, và đó chính là lý do Đài Xuân Phong đã nói như vậy.

Tuy nhiên, Đài Xuân Phong không nói rằng người đó dự định sẽ thông báo cho Mỹ trước khi quân Nhật tiến hành cuộc tấn công bất ngờ, nhằm làm hài lòng “ông chủ” và nhận được thêm sự hỗ trợ.

Kế hoạch này rất hoàn hảo, nhưng cần có người sẵn sàng liều mạng thực hiện nó. Nếu thất bại, Quốc Phủ sẽ không thừa nhận danh tính của người đó – đây là một chiến dịch bí mật.

Tả Trọng không chút do dự, ông cung kính cúi chào và bằng hành động thực tế đã trả lời câu hỏi đó: dù ở vị trí thấp hay cao, con người vẫn không được quên nhiệm vụ với đất nước.

Giống như những gì ông đã từng nói từ lâu: miễn là có thể đuổi bỏ người Nhật, ông sẵn sàng giao dịch với quỷ dữ, thậm chí trở thành quỷ dữ.

Sau khi ông qua đời, mọi chuyện sẽ không còn quan trọng nữa… Sinh mạng của người Mỹ không liên quan gì đến ông. Con quái vật khổng lồ là tập đoàn công nghiệp quốc phòng đang sắp được thả ra ngoài; những gì quân đội đang làm chỉ là đẩy nó một bước xa hơn mà thôi.

Nhưng trước khi tiến hành, ông vẫn cần tìm một người am hiểu về hải quân Mỹ và đáng tin cậy để hỗ trợ mình.

Sau nhiều suy nghĩ, Tả Trọng đã tìm đến Hà Dịch Quân, và cả hai cùng nhau vào căn phòng chứa máy phát sóng. Không lâu sau đó, một loạt tín hiệu bí ẩn đã được truyền đi vào bầu trời đêm.

1/1 0%