lore

Chương 1233: Dữ liệu khí tượng, thủy văn

12,158 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Công ty Đường Cát.

Xiao Ze Chuan nhìn chằm chằm vào Tả Trọng vừa trở về sau khi thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin, lo lắng hỏi liệu mọi việc có diễn ra suôn sẻ không, đồng thời liên tục nhìn ra ngoài cửa sổ, sợ rằng các điệp viên ONI bất ngờ xuất hiện.

Nhìn thấy vẻ mặt “lo lắng như kẻ phạm tội”, Tả Trọng không khỏi bật cười và vội vàng trấn an anh ta rằng mọi thứ đều ổn thỏa.

Khi chắc chắn không gặp nguy hiểm, Xiao Ze mới thở phào nhẹ nhõm; tuy nhiên, anh lại bắt đầu lo lắng về cách lấy được thông tin về thời tiết và điều kiện thủy văn của Pearl Harbor.

Tại Nhật Bản, các dữ liệu liên quan đến cảng biển, đặc biệt là các cảng quân sự, đều được coi là thông tin tối mật. Chúng hoặc được lưu giữ trong các phòng lưu trữ của Hải quân, hoặc nằm trong các cơ quan quân sự cấp cao hơn; người dân dân sự bị cấm ghi chép hay sở hữu những dữ liệu này.

Theo kinh nghiệm của anh, có lẽ chỉ có Tổng hành dinh Hạm đội Thái Bình Dương mới có những thông tin họ cần.

Tất nhiên, còn một cách khác, đó là bắt đầu ghi chép thông tin thời tiết tại Honolulu, đồng thời tìm hiểu về xu hướng thời tiết trong những năm trước thông qua người bản địa địa phương.

Nhưng điều này sẽ mất rất nhiều thời gian, và họ cũng không thể lấy được thông tin về điều kiện thủy văn; hơn nữa, hai người họ cũng không có khả năng nhìn xuống đáy biển để xác định độ sâu nước.

Nghe xong ý tưởng của Xiao Ze, Tả Trọng nhắm mắt lại và hồi tưởng bản đồ của Honolulu; sau một lúc, anh bỗng nhiên nhớ ra một địa danh và lập tức mở mắt nói:

“Tôi đã từng nói rằng, việc say mê sự thịnh vượng mang lại bởi hòa bình sẽ khiến con người mất đi sự cảnh giác; có lẽ nhiệm vụ này không khó như chúng ta tưởng.”

“Hả?”

Xiao Ze không hiểu tại sao nhiệm vụ lại liên quan đến việc mất cảnh giác; chẳng lẽ Tổng hành dinh của người Mỹ có sự phòng bị yếu kém đến mức họ có thể tự do ra vào mà không gặp trở ngại?

Trước sự hoang mang của anh, Tả Trọng không giải thích thêm nhiều, mà chỉ lặng lẽ nói một từ tiếng Anh: “Thư viện.”

“Thư viện ư?”

Xiao Ze càng thêm bối rối; dù người Mỹ có ngốc đến đâu, họ cũng không thể để thông tin tối mật trong thư viện được… Điều đó thật là vô lý.

Nếu thực sự như vậy, chỉ cần một nhân viên lãnh sự quán là có thể lấy được thông tin cần thiết; tại sao lại phải cử người sang tận nơi xa xôi như Hawaii để thực hiện nhiệm vụ này chứ?

Tả Trọng biết rằng anh ta không tin, nhưng thực tế đôi khi lại còn kỳ lạ hơn cả những gì người ta tưởng tượng.

Mặc

Ngay cả khi bây giờ khắp thế giới đang chìm trong bầu không khí chiến tranh, Mỹ vẫn chưa tăng cường sự quan tâm đối với an ninh thông tin của mình; điều này được chứng minh qua người đặc vụ ONI đó, người đeo chiếc nhẫn kỷ niệm. Có lẽ các dữ liệu về thủy văn và thời tiết của Hawaii qua nhiều năm đã được cất giữ trên một kệ sách bị bụi phủ, chỉ chờ họ đến tìm ra chúng.

“Anh Kozawa, đừng cố gắng hiểu người Mỹ theo lối suy nghĩ của chúng ta, người Châu Á.” Tả Trọng chỉ vào đầu mình, quyết tâm giải thích rõ cho KozawaSông nghe. Anh lấy cuốn danh bạ địa phương của đảo Waahu ra từ ngăn kéo, vừa tìm kiếm vừa giải thích: “Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, dù là ở Trung Hoa Dân Quốc hay Nhật Bản, mọi người đều coi sách là tài sản cá nhân quý giá và hiếm khi cho mượn chúng. Ngược lại, Mỹ từ khi thành lập quốc gia đã rất chú trọng đến việc xây dựng thư viện; hầu hết các thành phố ở đây đều có thư viện để nâng cao trí tuệ của người dân. Ví dụ, vào giữa thế kỷ 19, ông Carnegie – người giàu có trong ngành thép của Mỹ – đã quyên góp 50 triệu đô la để thành lập 2500 thư viện, một con số thực sự lớn lao. Những thư viện này đều có một điểm chung: chúng luôn cố gắng phục vụ người đọc một cách tốt nhất, cung cấp cho họ mọi tài liệu cần thiết. Đặc biệt là các thư viện đại học, nơi nhiều học giả tiếp tục nghiên cứu dựa trên những công trình của người đi trước, từ đó tích lũy thêm nhiều dữ liệu khoa học, bao gồm cả thông tin về thời tiết và đại dương địa phương.”

Khi nói đến đây, Tả Trọng đột nhiên dừng lại việc lật trang sách, ngón tay anh trượt trên trang giấy và cuối cùng dừng lại ở một dòng chữ cụ thể. KozawaSông nhìn xuống và thấy đó là địa chỉ của Thư viện Đại học Hawaii, số 87, thung lũng Manoa, Honolulu. “Đại học Hawaii ư?” anh lẩm bẩm.

“Đúng vậy, Đại học Hawaii – nơi đó, ngành khoa học khí quyển và hải dương học rất chuyên nghiệp.” Giọng nói của Tả Trọng rất quả quyết; anh gõ mạnh vào trang danh bạ, ánh mắt anh lấp lánh. “Tôi cần phải đến thư viện ngay lập tức… Không ai biết liệu người Mỹ có kịp phát hiện ra và cất giữ hoặc mang những tài liệu này đi không; nếu vậy thì sẽ rất phiền phức.”

KozawaSông nhíu mày, vẫn không tin rằng người Mỹ lại có thể bất cẩn đến mức đó… Nhưng anh không am hiểu lắm về lĩnh vực thông tin tình báo, nên đành gật đầu đồng ý kế hoạch của Tả Trọng.

Vào buổi chiều ngày hôm sau, gió ấm từ Thái Bình Dương thổi qua những hàng cây cọ hai bên đường. Tả Trọng ngước nhìn ánh nắng mặt trời lọt qua lá cây, rồi bướ

“Thung lũng Manoa, đỉnh C.”

“Được rồi, thưa ngài.”

Thung lũng Manoa nằm ở phía đông thành phố Honolulu, cách đó khoảng 5 cây số, hướng ngược lại so với hướng của Căn cứ Hải quân Pearl Harbor. Nơi đây có cảnh quan tuyệt đẹp và luôn thu hút rất nhiều khách du lịch.

Khi taxi đến nơi, Tả Trọng bước xuống xe và trộn lẫn vào đám người đi leo núi. Anh đi theo con đường mòn xuyên rừng và nhanh chóng hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên xanh mướt của khu rừng này.

Mặt trời lặn, bóng đêm buông xuống, và Thung lũng Manoa trở nên yên tĩnh. Trong bóng đêm tối om, thỉnh thoảng có tiếng gáy của những loài chim lạ vang lên; ánh trăng bị những đám mây dày che khuất, không thấy bóng dáng người nào trong thung lũng cả.

Đỉnh núi C…

Tả Trọng, người đã biến mất từ lâu, lại xuất hiện một lần nữa. Anh cẩn thận bước qua những chiếc lá rụng, tiến đến mép vách đá, nhìn xuống thấy Thư viện Đại học Hawaii phía dưới, sau đó tựa vào cây để nghỉ ngơi.

Không biết đã trôi qua bao lâu, từ phía dưới vang lên tiếng chuông báo cháy “đùng đùng đùng”; vài chiếc xe cứu hỏa lao nhanh về phía đó.

Tả Trọng nghe thấy tiếng đó, đứng dậy và lấy ống nhòm quan sát xuống dưới; anh thấy có ánh sáng le lói ở tầng một của thư viện. Vài phút sau, dưới ánh đèn đường, anh nhìn thấy có người mở cửa ra ngoài và bắt đầu trao đổi với các nhân viên cứu hỏa; có vẻ như cuộc trao đổi không diễn ra suôn sẻ lắm, và họ nhanh chóng tách ra.

Các xe cứu hỏa rời đi, người vừa mở cửa cũng quay trở lại thư viện, và ánh sáng vừa mới sáng lên lại tắt đi.

Tả Trọng lấy chiếc đèn pin được che kín bằng vải đen ra và nhìn đồng hồ: 2 giờ 18 phút sáng. Sau khi xác nhận thời gian, anh lặng lẽ bắt đầu di chuyển xuống dưới núi.

Theo kế hoạch, đúng 2 giờ sáng, Ogawa sẽ thông báo cho đội cứu hỏa đảo Oahu rằng Thư viện Đại học Hawaii đang gặp hỏa hoạn – nói cách khác, đó là một cuộc gọi cấp cứu giả mạo.

Trong trường hợp không có người trong nội bộ hỗ trợ, đây là cách tốt nhất để kiểm tra các biện pháp bảo vệ an ninh và tốc độ phản ứng của lực lượng cảnh sát đối phương (không được bắt chước). Điều kiện tiên quyết là khu vực đó phải là một quốc gia có trật tự xã hội ổn định.

Bây giờ, sau khi nắm rõ số lượng người canh gác thư viện, vị trí của họ và liệu có chó canh gác hay không, việc tiếp theo mà Tả Trọng cần làm là giữ im lặng, tiếp cận bí mật, tìm kiếm thông tin cần thiết và rời đi một cách kín đáo.

Đối với bất kỳ điệp

Nếu thay bằng Nhật Bản bản địa, anh ta chắc chắn không thể tiếp cận mục tiêu một cách dễ dàng như vậy; sự thận trọng đặc trưng của người Đông Á khiến các hoạt động thu thập thông tin luôn đối mặt với nhiều rủi ro khó lường.

Khoảng 3 giờ sáng, dưới sự che chở của cây cối và dãy núi, Tả Trọng đã thành công trong việc đến được bên ngoài thư viện mà không làm ai phát hiện ra.

Điều duy nhất còn lại cản trở anh ta là làm thế nào để giữ cho cửa sổ nguyên vẹn và tiếp cận bên trong thư viện.

Nếu cửa sổ bị hỏng, cảnh sát Mỹ hay thậm chí ONI cũng sẽ can thiệp vào cuộc điều tra; lúc đó, dù có thu được thông tin về điều kiện thủy văn và thời tiết tại Pearl Harbor, cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Nhưng điều này không làm khó được Tả Trọng. Anh ta bình tĩnh lấy ra găng tay và ủng tay, ủng chân, sau đó đến bên cửa sổ và bắt đầu thực hiện kế hoạch của mình.

Một cánh, hai cánh… Vào lúc đẩy đến cánh thứ ba, Tả Trọng đã tìm thấy lối vào thư viện – một cửa sổ chưa được đóng chặt.

Vẫn là câu nói đó: Người Mỹ đã bị cuộc sống thoải mái làm mất đi sự cảnh giác, thiếu đi lòng kính sợ đối với chiến tranh, và hoàn toàn không nhận thức được giá trị thông tin của những tài liệu trong thư viện này.

Trong suy nghĩ của họ, chẳng ai sẽ quan tâm đến đống sách cũ kỹ và bài báo ấy; vì vậy, việc xảy ra tình huống này là điều hoàn toàn bình thường.

Hơn nữa, bản chất của những người lao động là lười biếng; với mức lương chỉ vài chục đô la mỗi tháng, Tả Trọng không nghĩ rằng những người trông coi thư viện sẽ kiểm tra kỹ lưỡng từng cánh cửa sổ.

Tất nhiên, nếu đối phương thực sự là một người làm việc chăm chỉ theo chuẩn mực của chủ nghĩa tư bản, anh ta cũng có cách riêng để đối phó.

Đối với loại cửa sổ cũ kỹ, dù là loại có then hay khóa móc, chỉ cần một sợi dây mảnh là có thể giải quyết vấn đề một cách dễ dàng.

Buộc một nút thừa vào dây, sau đó dùng hai tay kéo hai đầu dây từ góc cửa sổ vào bên trong. Tiếp tục di chuyển nút thừa đó đến vị trí của tay nắm hoặc then cửa; khi chúng khớp vào nhau, chỉ cần kéo mạnh là cửa sổ sẽ mở ra.

Phương pháp này cũng có thể áp dụng để mở cửa xe hơi; toàn bộ quá trình không mất quá 30 giây, nhanh nhất chỉ cần 10 giây là xong, và đây chính là kỹ năng cơ bản mà các điệp viên cần biết.

Lấy ra một cái bình dầu nhỏ để bôi trơn ổ cửa sổ, nhằm tránh tiếng ồn, Tả Trọng nhẹ nhàng mở cửa sổ và nhảy vào bên trong. Sau khi đặt chân xuống đất, anh ta quan sát xung quanh rồi đóng cửa sổ lại; góc m

Tả Trọng bật chiếc đèn pin được phủ kín bằng vải đen, sử dụng những nhãn mác để tìm kiếm các cuốn sách về khoa học khí quyển và hải dương học. Ánh sáng từ đèn pin sau khi đi qua lớp vải đen trở nên rất mờ ảo, giúp giảm thiểu nguy cơ bị người khác phát hiện.

Sau một hồi tìm kiếm, một bài báo chuyên môn có tên “Hồ sơ thời tiết của đảo Wahu” đã xuất hiện trước mắt anh.

Bài báo này ghi lại tất cả các thông tin thời tiết của đảo Wahu trong giai đoạn từ năm 1907 đến năm 1938, bao gồm vị trí địa lí, độ cao so với mực nước biển, tần suất và tốc độ gió hàng năm, lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm, lượng ánh nắng mặt trời, lượng mưa… Những thông tin này sẽ giúp lực lượng không quân hải quân Nhật Bản lựa chọn thời điểm thích hợp nhất để tiến hành các cuộc không kích, tránh ảnh hưởng xấu của thời tiết đối với hiệu quả của các cuộc tấn công.

Lấy chiếc máy ảnh ra, Tả Trọng cầm đèn pin, vừa chụp ảnh vừa cẩn thận quan sát xung quanh, liên tục nhấn nút chụp để lưu lại toàn bộ nội dung của bài báo.

Sau khi thu thập xong các dữ liệu thời tiết, anh đặt bài báo trở lại vị trí ban đầu và chuyển sang tìm kiếm thông tin về thủy văn học của đảo Wahu. Lần này mọi việc diễn ra còn thuận lợi hơn; chỉ sau chưa đầy 20 bước, cuốn “Tổng hợp tài nguyên thủy sản của đảo Wahu”, bao gồm các thông tin về nhiệt độ, độ mặn, mật độ nước biển, dòng hải lưu, thủy triều, độ sâu nước và địa hình dưới mặt nước của vùng biển xung quanh đảo, đã nằm trong tay Tả Trọng.

Mặc dù các thông tin liên quan đến căn cứ Pearl Harbor chỉ được ghi chép đến thế kỷ 19, nhưng xét về mặt địa lý, vài chục năm chỉ là khoảng thời gian ngắn ngủi, vì vậy dữ liệu có lẽ không hề thay đổi nhiều.

Người Mỹ lại để những thông tin quan trọng như vậy ở nơi công cộng, như thể họ sợ người khác không thể phát hiện ra chúng vậy. Câu nói “Chiến tranh mang lại nguy hiểm, bỏ qua chiến tranh sẽ dẫn đến cái chết” quả thực rất đúng.

Cảm thán mãi, Tả Trọng tắt đèn pin, trong bóng tối anh thay cuộn phim mới cho máy ảnh và tiếp tục chụp ảnh, luôn lắng nghe những âm thanh bên ngoài.

Thời gian trôi qua nhanh chóng, mặt trời dần nhô lên từ mặt biển, thành phố bắt đầu hồi sinh.

Người canh gác buổi đêm ngáp ngủ đi ngáp ngủ lại quanh thư viện, thỉnh thoảng dừng lại để mở cửa sổ; gió biển thổi vào, mang theo mùi đất, xóa sạch mọi dấu vết mà Tả Trọng đã để lại.

Tại tầng một của công ty đường mía, Ogawa Kawaguchi đi đi lại lại, trông rất lo lắng. Đúng lúc anh b

1/1 0%