lore

Chương 1239: Người lao động Zuo Zhong

9,952 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Thời gian lại trôi qua vài ngày nữa.

Tả Trọng cùng Ogawa đã thay đổi trang phục và một lần nữa đến điểm cao gần Pearl Harbor. Hai người đứng trên một tảng đá nửa treo trong không trung, nhìn xuống dưới và thì thầm với nhau.

“Ogawa-kun, em có thể nhìn rõ loại tàu và tên của chúng không?”

“Ừ, được đấy.”

“Chiếc thứ nhất từ bên trái bến, là chiến hạm lớp Pennsylvania – Arizona, số hiệu BB-39.”

“Chiếc thứ hai từ bên trái bến, là chiến hạm lớp Tennessee – California, số hiệu BB-44.”

Dưới sự che chắn của Tả Trọng, Ogawa lấy ra ống nhòm gấp và liên tục báo cáo các thông tin về loại tàu, tên và số hiệu cho Tả Trọng nghe. Việc nhận biết các con tàu là kỹ năng cơ bản của một sĩ quan hải quân. Mỗi sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân Gakudō đều có một cuốn niên giám tàu chiến dày cộm bên cạnh giường mình; đó chính là di sản hàng trăm năm của hải quân Nhật Bản.

Trong khi Ogawa đang báo cáo, Tả Trọng cũng lặng lẽ ghi nhớ những thông tin đó vào lòng. Sự phối hợp giữa hai người rất ăn ý.

Nhưng chỉ biết tên và số hiệu các con tàu là chưa đủ; vai trò của từng khu vực trong cảng, vị trí của các thiết bị phòng thủ cũng cần phải quan sát từ gần mới hiểu rõ được.

Sau khi báo cáo hết những thông tin có thể nhìn thấy bằng mắt thường, Ogawa nhanh chóng thu lại ống nhòm và nhìn xung quanh, rồi thì thầm với Tả Trọng:

“Nanaka-kun, từ đây chúng ta chỉ có thể biết được những thông tin tổng quát thôi… Tiếp theo phải làm gì đây?”

Đúng lúc Tả Trọng đang suy nghĩ để trả lời, thì họ nghe thấy tiếng động cơ ầm ĩ khác hẳn so với tiếng xe dân dụng phía sau lưng mình. Quay đầu lại, họ thấy một chiếc xe jeep của quân đội Mỹ đang lao về phía họ.

Sự thay đổi đột ngột này khiến Ogawa tái nhợt mặt; anh lập tức muốn ném chiếc ống nhòm xuống vách đá, nhưng ngay lúc đó, Tả Trọng đã ngăn anh lại.

Nếu quân đội Mỹ thực sự đến để bắt người, thì việc ném ống nhòm cũng chẳng giúp ích gì; binh sĩ Mỹ không phải là cảnh sát, họ không cần bằng chứng gì cả.

Ngược lại, nếu họ không đến để bắt người mà chiếc ống nhòm rơi xuống dưới và bị ai đó phát hiện, thì điều đó lại có thể khiến quân đội Mỹ tại căn cứ nghi ngờ họ.

Vì vậy, tốt hơn hết là hãy chờ đợi một lúc xem họ định làm gì.

Trong lúc Tả Trọng và Ogawa đang quan sát một cách cẩn thận, chiếc jeep của quân đội Mỹ đã dừng lại trước một quán trà nhỏ do người Nhật Bản điều hành. Một vài lính thủy quân Mỹ đội mũ hình thuyền màu be bước xuống xe, cười nói và yêu cầu chủ quán mang cho họ vài chai cola.

Những người này không trả tiền, nhưng chủ quán hoàn toàn không tỏ v

Tả Trọng bỗng nhiên hiểu ra tại sao lại có một quán trà ở vị trí cao nhất của cảng quân sự – hóa ra là do các binh sĩ Mỹ cấp thấp tự nguyện làm như vậy.

  Một bên muốn tận hưởng đồ uống miễn phí trong lúc đi tuần tra, còn bên kia muốn kinh doanh riêng; vì vậy hai bên đã gặp nhau và quán trà nhỏ này được thành lập.

  Nghe tiếng nói của những người lính kia, Tả Trọng ung dung đứng đó nhìn xa xăm; Xiao Ze Chuan cũng thở phào nhẹ nhõm và bắt chước anh ta không nhìn vào những kẻ “quái vật” Mỹ đó cho đến khi chiếc xe jeep rời đi.

  “Được rồi, họ đã đi mất rồi… Cậu không cần run tay nữa đâu, Xiao Ze.” Tả Trọng liếc nhìn Xiao Ze Chuan và nói một cách từ tốn.

  Làm sao có thể tin rằng một người nhút nhát như vậy lại là một sĩ quan hải quân được? Có lẽ việc kẻ Đức cử anh ta đến Anqing để giữ chức chỉ huy hạm đội sông có lý do riêng… Hạm đội Liên minh cần những người dám mạo hiểm, dám làm những điều phi thường mới phù hợp.

  Khi Xiao Ze ngừng run rẩy, Tả Trọng nhìn về phía khu xưởng tàu ở Pearl Harbor và thấy một nhóm người đang cùng nhau rời khỏi xưởng và đi về phía cổng căn cứ… Có vẻ như họ không phải là binh sĩ Mỹ.

  Anh ta cùng Xiao Ze lấy ống nhòm ra quan sát kỹ lưỡng. Mặc dù ống nhòm cầm tay có độ phóng đại thấp nên không thể nhìn rõ khuôn mặt của họ, nhưng vẫn có thể nhận ra họ là người da vàng, và trên quần áo họ còn có những vết dầu nhớp.

  Người da vàng à?

  Tả Trọng nhớ lại thông tin mà người Nhật đã cung cấp: Ngoài người Hoa và người Nhật, trên đảo Oahu còn có rất nhiều người Philippines, số lượng lên đến hàng chục nghìn người.

  Đối với những công dân thuộc địa này, người Mỹ đã tin tưởng họ đến mức cho phép họ tham gia vào các công việc lao động cơ bản như xây dựng, quét dọn, sơn phết… trong khu vực Pearl Harbor.

  Bỗng nhiên, anh ta nhớ lại chuyện Quy Yǒu Guāng đã giả danh làm người bản địa Đông Nam Á khi anh ta đi qua Hawaii để đến thành phố cảng này.

  Trong mắt người Mỹ và các quốc gia phương Tây khác, người châu Á trông giống nhau như nhau… Người ta thường gọi đó là “không biết phân biệt khuôn mặt”. Liệu có thể tận dụng điểm này để lẻn vào Pearl Harbor không nhỉ?

  Dùng tay trái đỡ khuỷu tay phải, Tả Trọng vuốt ve cằm mình và suy nghĩ một lúc… Anh quyết định sẽ quan sát xem những người công nhân Philippines này nhập cảnh vào căn cứ bằng con đường nào, sau đó mới quyết định liệu có nên tiếp tục vào cảng hay không.

  Nếu đây là một hoạt động xu

Trí nhớ của Tả Trọng khá tốt, nhưng cũng chưa đủ để học được hàng chục thậm chí hàng trăm loại tiếng địa phương của Philippines; dù sao thì hệ thống mà anh ta sử dụng cũng quá tệ, không thể giúp anh ta thành thạo bất kỳ ngôn ngữ nào cả… Thật là đáng chán!

Theo thói quen, Tả Trọng lại “trừng phạt” hệ thống một lần nữa, sau đó gọi Xiao Ze Chuan và lái chiếc xe Ford mới mua về khu vực trung tâm thành phố, rồi ngay lập tức bắt đầu điều tra về các công nhân người Philippines.

Nhờ sự giúp đỡ của Hội thương nhân người Nhật, trong chưa đầy ba ngày, anh ta đã thu thập được thông tin cần thiết… Những “người đồng hương” này thật sự rất hữu ích!

Theo manh mối do một ông chủ công ty Nhật Bản cung cấp, Tả Trọng đến khu ổ chuột nằm giữa Honolulu và Pearl Harbor – nơi tập trung của người Philippines trên đảo Oahu.

Mỗi buổi sáng, người ta từ căn cứ Pearl Harbor sẽ đến đây để tuyển dụng công nhân; chỉ cần có giấy tờ do hải quan cấp, người Mỹ sẽ không kiểm tra lý lịch gì cả, mà chỉ đơn giản là kéo họ lên xe và đưa đi.

Vì sự khác biệt về dân tộc, công việc làm thường xuyên thay đổi, nên các công nhân này không quá quen biết lẫn nhau.

Điều này thật sự là tin tốt đối với Tả Trọng, nhưng để đảm bảo an toàn, anh ta quyết định phải tìm cách làm quen trước, sau đó mới lẻn vào khu vực của người Philippines ở Pearl Harbor.

Trong suốt nửa tháng tiếp theo, Tả Trọng vừa liên tục quan sát hoạt động của các tàu chiến Mỹ tại Pearl Harbor từ những vị trí cao, vừa gửi “báo cáo” về Tokyo mỗi bảy ngày một lần, đồng thời cũng cố gắng hòa nhập vào cộng đồng người Philippines, kết bạn với họ.

Anh ta tự tạo ra một danh tính giả: một người lai Nhật-Philippines, biết nói tiếng Nhật, tiếng Anh và một chút tiếng Tây Ban Nha; vì gia đình sa sút, anh ta đến Oahu để tìm kiếm cơ hội làm ăn, và ngoài sức lao động ra thì không có gì khác cả.

Vấn đề giấy tờ cũng được giải quyết khá dễ dàng; Lãnh sự quán Nhật Bản chỉ mất một ngày thôi là đã gửi đến cho anh ta một cuốn hộ chiếu Philippines trắng không có ảnh, nhưng con dấu của hải quan Mỹ in trên đó rất rõ ràng, giống y hệt hộ chiếu thật.

Tả Trọng tin chắc rằng trong hải quan Mỹ chắc chắn có người Nhật đang làm việc bí mật; đây thực sự là một “giấy tờ giả” hoàn hảo, và có lẽ họ cũng có thể tìm thấy thông tin về nó trong hồ sơ của hải quan.

Nhưng điều đó không liên quan gì đến anh ta cả; với những giấy tờ hoàn hảo và danh tính hợp lý này, anh ta nhanh chóng hòa nhập được với cộng đồng người Philippines trên đảo Oahu.

Khi tháng 11 năm 1940 đến, việc kiểm tra và sửa chữa các tàu chiến Mỹ tại Pearl Harbor diễn ra ngày càng

“Thợ sơn, xe tải số 2.”

“Thợ đánh bóng thép, xe tải số 5.”

Mặc dù bị người này phun nước bọt vào mặt, những người Philippines dưới đó vẫn không hề than phiền, mà còn vui vẻ lên xe tải và tự hào nhìn xuống đồng bào của mình.

Dù Mỹ hiện tại vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cuộc Đại khủng hoảng, mức lương ở đây vẫn cao nhất thế giới, đặc biệt là trong quân đội hải quân – nơi có rất nhiều tiền – mức lương trả cho công nhân đủ để một gia đình sống thoải mái.

Lúc này, Tả Trọng cũng đang ở trong đám đông. Khi nghe thấy thông báo “thợ đóng đinh”, anh ta lập tức dùng các thủ thuật kín đáo đẩy những người cạnh tranh ra xa và thành công lên xe tải.

Chỉ sau khoảng mười phút, trong tiếng ầm ĩ và lời mắng nhiếc, những chiếc xe tải của quân đội Mỹ đã tập hợp đủ người và nhanh chóng rời đi.

Có lẽ vì muốn làm phiền những người công nhân phía sau, các tài xế liên tục rẽ qua rẽ lại, khiến những người trên xe lắc lư không yên, nhưng không ai dám phàn nàn.

Sau một hồi lắc lư, xe tải dừng lại trước cổng căn cứ Pearl Harbor. Các lính canh như đuổi lợn vậy, đẩy những công nhân xuống xe, và những binh sĩ trang bị đầy đủ bắt đầu kiểm tra họ.

Tả Trọng cùng tất cả các công nhân đều giơ tay lên để được kiểm tra. Như anh ta đã đoán, việc kiểm tra chỉ mang tính hình thức mà thôi; quân đội Mỹ thậm chí còn không buồn mở cả những chiếc hộp cơm chứa bữa trưa của họ.

Sau khi kiểm tra xong, bao gồm cả anh ta, những công nhân mới được yêu cầu xuất trình hộ chiếu, sau đó nhận một bộ áo sơ mi màu xanh ô liu làm đồng phục công việc, và mới được phép vào bên trong căn cứ Pearl Harbor.

Đáng chú ý là những người lính kiểm tra hộ chiếu rất chuyên nghiệp; họ không chỉ so sánh hình ảnh và ngoại hình mà còn hỏi thêm các công nhân khác để xác minh danh tính của họ.

Nhưng việc kiểm tra này dường như không có tác dụng gì cả; có lẽ mục đích chính của nó chỉ là để báo cáo của các quan chức trông đẹp hơn mà thôi. Bất kỳ một đặc vụ chuyên nghiệp nào cũng có thể vượt qua được việc kiểm tra này.

Theo con đường bằng xi măng phẳng lặng, Tả Trọng cùng nhóm công nhân đi bộ và trò chuyện, rồi đến một xưởng đóng tàu lớn. Ở đây, không còn có những lính canh nghiêm ngặt nữa, chỉ có vài người quản lý kiên nhẫn đang phân công công việc cho mọi người.

“Anh, anh… đi đến bãi đóng tàu số A.”

“Anh và người đàn ông to lớn kia, đi đến bãi đóng tàu số B.”

Người đàn ông to lớn ấy – chính là Tả Trọng – tuân lệnh một cách ngoan ngoãn, theo những người bạn đến dưới một chiếc t

1/1 0%