lore

Chương 561: Hội nghị liên hợp quân sự và chính trị

14,693 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Mặc dù tên của ngôi phủ này là “Phủ Đại thần Bắc Dương kiêm Tổng đốc Trực Lệ”, nhưng thực tế nó có treo ba tấm biển; trụ sở Tổng chỉ huy Quân đội Tiền phong cũng nằm tại đây. Vì đây là cơ quan chính trị và quân sự cao nhất của hai tỉnh Trực Lệ và Sơn Đông, nên diện tích của nó rất lớn, dài và rộng mỗi bên đều khoảng 500 mét.

Quy hoạch tổng thể và thiết kế của Thành phố mới Thiên Tân được thực hiện bởi các nhà thiết kế người Pháp cùng hàng chục nhà thiết kế trong và ngoài nước.

Bản thiết kế tổng thể đã được thảo luận kỹ lưỡng bởi nhiều bên liên quan, và cuối cùng được Đằng Dục Tảo trực tiếp phê duyệt.

Stil kiến trúc chung của thành phố mới có thể được mô tả bằng tám từ: hùng vĩ, độc đáo và đẹp mắt.

Bên trong thành phố mới, ngoại trừ một số công trình kiến trúc cổ điển Trung Hoa vẫn còn nguyên vẹn, như Văn phòng Giao thương Tam Khẩu ở bờ bắc sông Vận Hà được bảo tồn, tất cả các công trình khác đều được xây dựng theo quy chuẩn nhất định; phần lớn mang phong cách kết hợp giữa Trung và Tây, chỉ một số ít công trình hoàn toàn theo phong cách Tây phương.

Các công trình hai bên đường chính đều có một đặc điểm chung: dù là theo phong cách kết hợp hay hoàn toàn Tây phương, chúng đều rất cao lớn, khiến người ta cảm thấy như trở lại thời đại Hán và Đường ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Phủ Đại thần Bắc Dương kiêm Tổng đốc Trực Lệ chính là một ví dụ điển hình cho phong cách kiến trúc kết hợp Trung-Tây; ngôi phủ hùng vĩ này đã tạo ra nhiều “lần đầu tiên” ở trong nước.

Điều đầu tiên đáng chú ý là nó đã thay đổi hoàn toàn cấu trúc thông thường của các văn phòng chính quyền – thay vì xây tường bao quanh, nơi đây chỉ lắp đặt những hàng rào sắt màu nâu dày, cao khoảng một người; phía sau hàng rào là những bụi cây được cắt tỉa gọn gàng, và xung quanh hàng rào là những cây bạch quả cao lớn được trồng xen kẽ.

Hầu hết các cây trong phủ đều là bạch quả; chỉ một số ít nơi được trồng thêm các loại cây khác để làm đẹp cảnh quan.

Theo thiết kế, trên hai bên các con đường chính của thành phố mới, chỉ có cây bạch quả được trồng.

Những tấm biển của Phủ Đại thần Bắc Dương kiêm Tổng đốc Trực Lệ cũng khác biệt so với trước đây. Trong khi các văn phòng chính quyền khác thường có biển được đặt ngang trên cửa ra vào, thì phủ của Đằng Dục Tảo lại không có cửa ra vào, do đó không thể treo biển; thay vào đó, ba tấm biển màu đen viết chữ vàng được treo trên hai cột đá hoa cương ở hai bên cửa chính rộng lớn.

Ba tấm biển đó lần lượt ghi: “Phủ Đại thần Bắc Dương”, “Phủ Tổng đốc Trực Lệ”, và “Trụ sở Tổng chỉ huy Quân độ

Mặc dù thực tế Đằng Dục Tảo giữ quyền cai quản hai tỉnh này, nhưng do thói quen, dân chúng lẫn các quan lại vẫn gọi nơi đây là Tổng đốc phủ Trực Lệ.

Biển hiệu của Bộ Tư lệnh Quân đội Bắc Dương thực chất chỉ là biển hiệu của Tổng chỉ huy Quân tiên phong. Tuy nhiên, do triều đình đã thống nhất tên gọi cho tất cả các đơn vị quân sự trong nước, nên tên “Quân tiên phong” không thể được sử dụng nữa, ít nhất là trong các buổi công khai. Vì vậy, người ta bắt đầu gọi tên các đơn vị quân sự tại một tỉnh cụ thể dựa trên địa danh đó.

Ví dụ, vì trụ sở chính của Quân tiên phong nằm ở Thiên Tân và chính Đằng Dục Tảo, người đứng đầu Quân tiên phong này, cũng đang sống tại đó, nên Quân tiên phong được gọi là Quân Bắc Dương.

Còn Viên Thế Khải ở Hà Nam, đội quân phía nam của ông ta được gọi là Quân Sở Hàn; còn đội quân phía bắc của Vũ Vệ ở Nhiệt Hà, vì lúc đó nơi đó chưa được xác định là một tỉnh nên chưa có tên gọi cụ thể, chỉ được gọi là Quân mới Nhiệt Hà.

Trong các văn kiện giao dịch giữa dân chúng, cơ quan tổ chức quân đội, cũng như trên các báo chí trong và ngoài nước, Quân tiên phong đều được gọi là Quân Bắc Dương, điều này khiến Đằng Dục Tảo khá bực mình.

Đồng thời, trong lòng Đằng Dục Tảo cũng có chút vui mừng vì ông ta đã chiếm lấy cái tên vốn thuộc về đội quân phía nam của Viên Thế Khải.

Điểm đặc biệt thứ ba của Tổng đốc phủ chính là kiến trúc của nó rất độc đáo. Mặc dù chỉ là sự kết hợp giữa phong cách Trung và Phương Tây, thiết kế cũng không có gì đặc biệt, nhưng vẻ ngoài của nó thực sự rất độc đáo.

Điều khiến nó trở nên đặc biệt là tòa nhà chính cao năm tầng, với mặt trước rộng hơn ba mươi mét, toàn bộ đều được trang bị cửa sổ kính từ sàn đến trần. Nhờ vào cách ghép kính đặc biệt, từ bên ngoài nhìn vào, cứ như thể một tấm kính khổng lồ được dán trực tiếp lên tường vậy.

Điều đặc biệt nhất là tấm kính này lại có màu xanh nhạt.

Không chỉ tòa nhà chính, mà cả hai tòa nhà phụ bốn tầng ở hai bên, cùng với các cửa sổ kính của hai tòa nhà bốn tầng được xây dựng đối xứng nhau, cũng đều có màu xanh nhạt. Khi ánh nắng mặt trời chiếu vào, Tổng đốc phủ trở nên lấp lánh rực rỡ, và người ta thậm chí có thể thấy những đám mây trắng từ từ trôi qua trên bức tường kính khổng lồ đó.

Cảnh tượng hùng vĩ này khiến dân chúng vô cùng ngạc nhiên và ngưỡng mộ, và họ bí mật gọi nơi đây là “Cung điện Kính”.

Bên trong sân của Tổng đốc phủ, hai tòa

Hôm nay, trong mắt người ngoài, bên trong và xung quanh Tổng đốc phủ Trực Sơn có vẻ hơi căng thẳng, bởi không chỉ số lượng binh sĩ canh gác ban đầu là bốn người nay đã tăng lên thành tám người, mà qua hàng rào sắt bên ngoài tổng đốc phủ, cũng có thể thấy những đội tuần tra đi lại liên tục bên trong.

Lý do là vào buổi sáng hôm nay, tại hội trường lớn của Bộ Tư lệnh Lục quân ở phía bên trái, đã diễn ra cuộc họp các sĩ quan cấp cao, bao gồm cả các tướng lĩnh thuộc Bộ Hải quân mới được thành lập.

Sau bữa trưa, ngay lập tức, tại phòng họp ở tầng hai của tổng đốc phủ, đã tiến hành cuộc họp liên kết giữa quân sự và dân sự, với sự tham gia của các quan chức cấp cao từ Trực Lệ, Sơn Đông, cùng những quan chức và nhân vật quan trọng có liên quan đến chính sách mới và công cuộc cải cách.

Vì hầu hết các nhân vật quan trọng thuộc phe Bắc Dương đều có mặt tại đây, nên việc tăng cường an ninh là điều không thể tránh khỏi.

Phòng họp này trong tổng đốc phủ là căn phòng duy nhất được trang trí bằng thảm, những chiếc đèn treo cũng đều là loại nhập khẩu cao cấp, xung quanh tường còn được lắp đặt các tấm ốp trang trí; phong cách trang trí dù còn khá đơn giản nhưng không hề tồi tàn, ít nhất thì cũng tốt hơn nhiều so với văn phòng của Đằng Dục Tảo.

Đây chính là nơi Đằng Dục Tảo tiếp đón các nhân vật quan trọng, chẳng hạn như các đại sứ từ các quốc gia khác khi họ đến thăm.

Phòng họp này rất rộng rãi, và vì có nhiều nhân vật đặc biệt tham gia cuộc họp, nên Đằng Dục Tảo đã cố ý chọn nơi này để tổ chức cuộc họp.

Bên trong phòng họp, những chiếc ghế sofa da được sắp xếp theo hình vòng tròn ở giữa phòng, cứ cách hai chiếc sofa là có một chiếc bàn trà, trên đó không chỉ có gạt tàn mà còn có cả ấm trà.

Phía sau những chiếc sofa là những hàng ghế da được xếp thành nhiều hàng, trước mỗi ghế cũng có bàn trà và ấm trà tương tự.

Điều đặc biệt nhất là trước mỗi bàn trà, trên sàn đều có một thanh đồng màu vàng, ở đỉnh thanh là một chiếc đĩa tròn nhỏ, bề mặt của nó cũng phản chiếu ánh sáng kim loại, và trên đĩa có rất nhiều lỗ nhỏ; thậm chí còn có dây điện kéo xuống từ phía dưới thanh đồng và tụ lại trong một cái tủ kim loại có kích thước bằng một chiếc bàn viết, đặt ở một góc phòng họp.

Thứ này không phải là thứ gì khác, mà chính là micrô, hay nói chính xác hơn, tên khoa học của nó là micrô carbon, đây là loại micrô hiện đại nhất do nhà phát minh người Mỹ Emil Berliner phát minh ra, và nó tiên tiến hơn nhiều so với các loại micrô carbon trước đây.

Điều

Việc bố trí nhiều ghế như vậy vẫn khiến không gian có phần chật hẹp, nhưng Đằng Dục Tảo buộc phải làm vậy vì số người tham dự cuộc họp liên minh này quá đông, lên tới hàng chục người, bao gồm tất cả các nhân vật quan trọng thuộc phe Bắc Dương.

Vì đây là cuộc họp liên kết giữa quân sự và chính quyền, nên không chỉ có các tướng lĩnh của quân đội Bắc Dương tham gia mà còn có các quan chức cấp cao từ tỉnh Trực Lý và Sơn Đông. Trong căn phòng họp rộng rãi, hai chiếc sofa ở phía trước được bố trí như sau: bên trái là chỗ ngồi của Đằng Dục Tảo, vị quan cao cấp nhất của phe Bắc Dương; bên phải là chỗ ngồi của Tổng đốc Sơn Đông Châu Phục.

Phía hai bên Đằng Dục Tảo và Châu Phục là hai chiếc sofa khác đối diện nhau, còn phía sau để tiết kiệm không gian thì được bố trí những chiếc ghế da có lưng tựa.

Trên những chiếc sofa bên trái và những chiếc ghế da phía sau đó, đều là các tướng lĩnh quân đội Bắc Dương mặc đồng phục quân sự mùa hè chỉnh tề. Từ vị trí gần Đằng Dục Tảo xuống dưới, theo thứ tự là Tổng tham mưu trưởng quân đội Bắc Dương Vệ Kính Hải, Giám đốc Cơ quan Công nghiệp Quân sự và Hậu cần Lý Ngọc Lâm, Tổng giám đốc Pháo binh Liu Changfa, Phó Tổng tham mưu trưởng Sun Shijun, Giám đốc Cơ quan Y tế Quân đội Lin Lianhui, Giám đốc Cơ quan Tongxu Lin Liansheng – tất cả đều là các tướng lĩnh thuộc cơ quan chỉ huy trực thuộc tổng hành dinh quân đội.

Mặc dù Lin Lianhui, Lin Liansheng và Sun Shijun đều mang cấp bậc thiếu tướng, nhưng vì họ đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng cho toàn quân, nên vị trí của họ rất quan trọng trong hàng ngũ lãnh đạo quân đội.

Phía sau những chiếc ghế da của họ là các nhân viên thuộc cơ quan tổng hành dinh, như Trưởng phòng Chiến dịch Zuo Mingyang – người cũng mang cấp bậc thiếu tướng – cùng với các trưởng phòng khác; cấp bậc quân hạng của họ dao động từ trung tá đến đại tá.

Ngay dưới hàng người này, còn có hai vị tướng khoảng 40 tuổi mặc đồng phục quân sự màu trắng. Vị tướng đứng đầu mang cấp bậc trung tướng; mặc dù có thân hình trung bình và hơi mập mạp, nhưng khi ngồi trên sofa, ông ta vẫn toát lên vẻ oai nghiêm và uy nghi. Người này chính là Bộ trưởng Hải quân Diệp Tổ Quý.

Vị tướng ngồi dưới ghế của ông ta mang cấp bậc thiếu tướng, có thân hình cao lớn; mặt mày hơi gầy nhưng đôi mắt sâu hoăc ánh mắt màu nâu nhạt lại rất sáng. Khi ngồi trên sofa, ông ta vẫn ngồi thẳng lưng; người này chính là Sa Zhenbing – vị đô đốc hải quân nổi tiếng của nước Cộng hòa Trung

Do Diệp Tổ Quý thông minh và chăm chỉ, anh nhận được nhiều lời khen ngợi cao trong thời gian du học, được mô tả là người cần mẫn, sáng suốt và có nhiều kinh nghiệm. Sau đó, anh được bổ nhiệm làm chỉ huy của một trong bốn chiến hạm thiết giáp mạnh nhất của Hải quân Bắc Dương – chiến hạm “Kính Viễn”. Trong trận hải chiến Mậu Tuất, anh đã tự nguyện giơ cờ chỉ huy thay cho chiến hạm chủ lực “Định Viễn”, tiếp tục chỉ huy các hoạt động cho đến khi quân Nhật rút lui.

Diệp Tổ Quý không chỉ thể hiện xuất sắc trong trận hải chiến Hoàng Hải mà còn có những thành tích đáng chú ý trong cuộc phòng thủ Weihai sau đó. Anh từng sử dụng chiến hạm “Kính Viễn” làm chiến hạm chủ lực tạm thời, dẫn dắt bốn chiến hạm pháo khác để hỗ trợ lực lượng phòng thủ tại các khẩu đài phía nam, và đã giết chết Đại tá Đại Tự An Thuần – chỉ huy hạm đội bên trái của quân Nhật.

Vào ngày 15 tháng 1 năm sau đó, hơn 40 tàu chiến lớn nhỏ của quân Nhật đã tiến vào vùng biển phía nam Weihai, mở cuộc tấn công bằng pháo binh. Trong tình huống số lượng bất lợi, Diệp Tổ Quý vẫn dẫn dắt chiến hạm “Kính Viễn” tiến vào vùng chiến sự và giao tranh ác liệt với quân Nhật. Đến khoảng trưa, chiến hạm “Kính Viễn” bị đạn địch trúng vào những vị trí then chốt, sau đó lại bị mắc cạn. Để tránh rơi vào tay địch, anh đã tự đánh chìm con tàu của mình.

Sau khi toàn bộ Hải quân Bắc Dương bị tiêu diệt, tất cả các tướng lĩnh đều bị bãi nhiệm, và Diệp Tổ Quý cũng bị giam giữ tại Thiên Tân. Phải đến năm thứ 25 triều đại Guangxu, anh mới được phục hồi chức vụ và được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy Hải quân Bắc Dương.

Lần này, khi Đằng Dục Tảo tái tổ chức Hải quân hai miền và thành lập Bộ Hải quân, Diệp Tổ Quý được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Hải quân đầu tiên.

Một trong những tướng lĩnh khác có ngoại hình không mang đặc điểm của người Hán chính là Sa Chấn Băng – một vị tướng nổi tiếng thuộc nhóm người sắc tộc khác, từng là chỉ huy chiến hạm “Weiyuan” của Hải quân Bắc Dương và được phong làm Phó tướng. Sa Chấn Băng sinh ra ở Phúc Kiến nhưng có nguồn gốc từ Shaanxi. Cùng với Diệp Tổ Quý, Lưu Bộ Xán, Phương Bách Khiêm, Nghiêm Phục… anh cũng là một trong những sinh viên đầu tiên của chương trình đào tạo hàng hải Phúc Kiến được cử sang Vương quốc Anh để học lái tàu tại Học viện Hải quân Hoàng gia Greenwich.

Mặc dù Sa Chấn Băng không có cơ hội tham gia trận hải chiến Hoàng Hải, nhưng cuộc chiến phòng thủ Weihai đã mang đến cho anh cơ hội đối đầu với quân xâm lược Nhật Bản. Trong thời gian đó, Sa Chấn Băng được giao nhiệm vụ phòng thủ đảo Nhật. K

Trước làn đạn pháo của kẻ thù, Sa Trấn Băng đã tự mình điều khiển khẩu pháo nhanh để phản công, và bị thương ở nhiều nơi trên cơ thể.

Ngay cả trong các ghi chép của phía Nhật Bản, họ cũng ca ngợi rất nhiều về chiến dịch phòng thủ đảo do Sa Trấn Băng chỉ huy. Phía Nhật viết rằng: Trong trận này, các đài pháo của địch hoạt động rất hiệu quả, sử dụng tám khẩu pháo lớn để chống lại hơn hai mươi tàu của hạm đội chúng ta, vận hành một cách khéo léo và bắn liên tục vào các tàu của chúng ta.

Mười một ngày sau, Sa Trấn Băng mới nhận được lệnh từ Đinh Như Xương, yêu cầu ông dẫn quân trở về đảo Lưu Công.

Sau cuộc chiến tranh Giáp Ngọ, tất cả các sĩ quan và binh sĩ hải quân còn sống sót đều bị sa thải và trở về quê nhà. Sa Trấn Băng cũng trở về Phúc Châu, nhưng tài sản của ông đã cạn kiệt, gia đình gặp nhiều khó khăn, đến nỗi không thể nuôi dưỡng cả hai con cái của mình, nên ông đành phải đi làm giáo viên tại nhà của một gia đình quý tộc để kiếm tiền sinh sống.

Năm Thanh Thuần thứ 22, ông được Tổng đốc Liêu Giang lúc bấy giờ mời làm quan chỉ huy đài pháo Vũ Tùng và được thăng chức thành phó tư lệnh Quân đội Tự Cường.

Năm Thanh Thuần thứ 25, triều đình quyết định tái thiết hải quân, đặt hàng các tàu chiến như “Hải Thiên”, “Hải Kỳ” từ Anh và Đức, đồng thời hủy bỏ lệnh sa thải của Phó đô đốc Bắc Dương Diệp Tổ Quý và phục chức ông với chức vụ Tư lệnh Hải quân BJ.

Lúc bấy giờ, Diệp Tổ Quý cho rằng kiến thức, kinh nghiệm và tính cách của Sa Trấn Băng đều vượt trội hơn mình, nên đã đề xuất với triều đình để Sa Trấn Băng đảm nhận chức vụ Tư lệnh Hải quân, nhưng Sa Trấn Băng kiên quyết từ chối. Cuối cùng, triều đình đành phải bổ nhiệm Sa Trấn Băng làm phó tư lệnh kiêm chỉ huy tàu “Hải Kỳ”.

Đằng Dục Tảo cuối cùng đã chọn hai người này để đảm nhận vai trò chỉ huy hạm đội hải quân và Bộ trưởng Hải quân. Ngoài kiến thức và thành tích của họ trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Giáp Ngọ, còn có một lý do khác khiến Đằng Dục Tảo quyết định giao trách nhiệm hải quân cho họ.

Đó là, trong lần đàm phán hòa bình này, Yì Kuāng đã đề xuất bán đi năm tàu chiến lớn của Bắc Dương như “Hải Thiên”, “Hải Kỳ”, và hủy bỏ mọi biện pháp phòng thủ trên biển, nhằm thể hiện rằng triều đình không còn ý định chuẩn bị chiến tranh với nước ngoài nữa, nhằm làm hài lòng các cường quốc.

Khi đề xuất này được đưa ra, nó ngay lập tức bị Sa Trấn Băng phản đối mạnh mẽ, và sau đó, nhờ sự phản đối của Diệp Tổ Quý và những người khác, đề xuất đó đã bị hủy bỏ

1/1 0%