lore

Chương 279: Không đề

14,213 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Phòng thi của kỳ thi xuân quý chính là những căn phòng nhỏ đen tối được xếp liền kề nhau, được gọi là “phòng thi”. Khi các sinh viên bước vào trong, người lính canh sẽ khóa cửa lại, chỉ để lại một ô nhỏ dùng để truyền đưa bài thi.

Cả một ngày trời, các sinh viên đều phải thực hiện mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày trong những căn phòng đen tối này.

Ánh nến le lói, chiếu rọi lên không gian chật hẹp bên trong; Hứa Nhị Lang ngồi bên cạnh bàn, đổ nước vào đá mài và từ từ mài bút.

Còn rất nhiều thời gian trước khi kỳ thi bắt đầu, và khoảng thời gian này đủ cho anh ta tĩnh tâm suy nghĩ về một số việc.

Từ xưa đến nay, trong kỳ thi khoa cử, người ta coi trọng nội dung về kinh điển hơn là thơ văn; hơn nữa, giới thơ ca ở Đại Phụ đã suy yếu từ lâu rồi, vì vậy đối với hầu hết các sinh viên, kỳ thi cuối cùng này chỉ là một nghi thức hình thức mà thôi.

Khi mới vào phòng thi, những người bạn quen biết đều nói cười vui vẻ, tự nhiên; không giống như hai kỳ thi trước đó, khi mà mọi người đều có vẻ mặt nghiêm túc và căng thẳng, như thể họ đang chuẩn bị ra trận vậy.

Nhưng dù người khác có thể thoải mái, Hứa Nhị Lang biết rằng mình không thể lơ là được.

Anh ta là một sinh viên của Viện học Vân Lộc; theo thái độ mà triều đình Các quý ông đối xử với những sinh viên này, sau khi đỗ đạt, họ hoặc sẽ bị điều đến những vùng hẻo lánh, hoặc sẽ bị giấu kín không được phong chức.

Hứa Nhị Lang có những ước mơ riêng của mình; anh ta không muốn bị điều đến những nơi xa xôi, cũng không muốn bị giấu kín ở kinh thành.

“Con đường phía trước còn rất dài…” Hứa Tân Niên thở dài.

Lúc này, người lính canh bên ngoài gõ vào ô cửa và nói với giọng trầm ấm: “Thưa ngài, bài thi đã đến rồi.”

Những người tham gia kỳ thi xuân quý đều là những người đã đỗ đạt cấp bậc “cử nhân”; những người lính canh này đều gọi các sinh viên trong phòng thi là “thưa ngài”.

Hứa Tân Niên nhận lấy bài thi và trải nó ra trên bàn; lúc này trời đã sáng, nhưng mặt trời vẫn chưa mọc.

Dưới ánh nến màu cam, Hứa Tân Niên nhìn kỹ vào đề bài và thấy đó là một câu trong sách “Cheng Zi – Qiang Ge”: “Ba quân có thể mất tướng lĩnh, nhưng một người dân bình thường thì không thể mất ý chí.”

Với kiến thức sâu rộng về thơ văn, Hứa Nhị Lang ngay lập tức nhận ra điểm then chốt: đây là một bài thi về ý chí!

Anh ta nhìn chằm chằm vào bài thi, với vẻ mặt không thể kiểm soát được, trong mắt anh ta hiện lên vẻ không thể tin được.

“Ngày hôm đó, trước khi anh vào nhà tôi, chắc chắn anh đã đạp phải phân chó phải không?”

“Hứa Nhị Lang lẩm bẩm.

Làm sao anh trai mình có thể đoán đúng được nhỉ?

Chuyện rút thăm ngày hôm đó, Hứa Nhị Lang chỉ coi đó là cách để đối phó với anh trai khó chịu kia thôi; dù đề thi kỳ thi xuân khoa có thể đoán trước được, nhưng cũng chỉ giới hạn trong phạm vi kinh điển và luận văn mà thôi, bởi vì hai loại này đều có quy luật nhất định để suy đoán.

Còn đề bài thơ ca thì hoàn toàn tùy thuộc vào tâm trạng của người ra đề; họ muốn đặt câu hỏi gì thì sẽ đặt câu hỏi đó, thậm chí có thể đặt tên theo những loài hoa dại ven đường cũng nổi tiếng.

Làm sao anh trai mình lại đoán đúng được nhỉ?!

Trừ khi buổi tối hôm đó anh trai mình vô tình giẫm phải phân chó… Hứa Nhị Lang thực sự không nghĩ ra lý do nào khác nữa.

Ngay lập tức, các biểu cảm như sửng sốt, bối rối, mơ hồ trên khuôn mặt Hứa Tân Niên đều biến thành niềm vui cuồng nhiệt và hứng thú.

Anh trai mình đã đoán đúng đề rồi! Anh trai mình đã làm được!

Hứa Tân Niên bỗng nhiên ngẩng thẳng lưng lên, không kiềm được mà muốn hét lên ba tiếng để bày tỏ niềm xúc động trong lòng mình.

“Với tài năng thơ ca của anh trai, nếu anh ấy đã đoán đúng đề thi, thì trong kỳ thi thơ ca lần thứ ba này, chắc chắn sẽ là tôi, Hứa Nhị Lang, được trao danh hiệu cao nhất. Có lẽ tôi sẽ có cơ hội tranh giành vị trí ‘Hội Nguyên’…”

Người giành chiến thắng trong kỳ thi này sẽ được gọi là “Cống Sĩ”, và người đứng đầu trong số họ sẽ được gọi là “Hội Nguyên”.

Suy nghĩ của Hứa Tân Niên có lý lẽ: Thứ nhất, trong kỳ thi này, danh tính của anh ta – một học trò của Viện học Vân Lộc – sẽ không bị tiết lộ, vì vậy anh ta sẽ không bị loại bỏ. Thứ hai, Hứa Tân Niên là một người có năng khiếu học tập bẩm sinh, là học trò cưng của đại học giả Trương Thận; hơn nữa, với kiến thức sâu rộng về hệ thống Nho giáo và khả năng ghi nhớ tuyệt vời, trình độ của anh ta vượt xa so với các học trò khác tại Quốc Tử Giám.

Cuối cùng, để ngăn chặn hành vi gian lận trong kỳ thi khoa cử, triều đình Đại Phụng đã sắp xếp ba người chủ trì kỳ thi cùng với nhiều người khác tham gia đánh giá; thành phần của nhóm này rất phức tạp – ba người chủ trì kỳ thi chắc chắn đến từ các phe phái khác nhau, thậm chí có thể đối đầu với nhau.

Ngay cả khi có người có thể mua chuộc được một trong ba người chủ trì kỳ thi, cũng không thể mua chuộc được hai người còn lại.

Vì vậy, trong mỗi kỳ thi khoa cử, các người chủ trì kỳ thi thường xuyên có những cuộc tranh đấu gay gắt, sau đó họ sẽ thảo luận và thỏa hiệp với nhau để đưa

Nếu có giường, anh ấy sẽ lăn lộn trên giường, hoặc quằn quại như một con giun.

“Anh trai thật là vị phúc tinh của em! Bình tĩnh lại, bình tĩnh… Bài thơ mà anh trai đã đưa cho em là gì nhỉ?”

Hứa Tân Niên cố gắng bình tĩnh lại và tự nhủ rằng mình đã học thuộc lòng mọi thứ từ khi được xếp vào hạng tám trong hệ thống Nho giáo. Thêm vào đó, bài thơ mà anh trai đưa cho anh ấy thực sự rất hay, nên anh ấy dễ dàng nhớ lại nó ngay lập tức.

Cầm bút nhúng mực, anh mở ra tờ giấy để viết bản thảo… Lúc này, anh mới nhận ra rằng đôi tay mình vẫn đang run nhẹ.

“Thật là yếu đuối… Chỉ là một kỳ thi mà đã căng thẳng đến thế này. Cha đã nói rằng em có tiềm năng trở thành một vị đại thần.”

Tự trêu chọc bản thân một chút, Hứa Tân Niên cảm thấy thoải mái hơn, đôi tay không còn run nữa, và anh nhanh chóng viết nên bài thơ:

**Kim tửn thanh rượu đấu thập thiên, Ngọc đàn trân hương trực vạn tiền.

Dừng cốc ném đũa bất năng thực, Rút kiếm tứ quan tâm mang manh.

Muốn độ Hoàng Hà băng tắc sông, Sẽ lên Thái Hành tuyết mãn sơn.

Nhàn lai thùy điệu Bích Khê thượng, Hốt phục thừa chu mộng Nhật biên.

Hành lộ nan, hành lộ nan, đa kỵ lộ, kim an tại?

Trường phong phá sóng hữu khí thời, Trực quàng vân phiên tế Thanh Hải.”

Sau khi viết xong, anh đọc đi đọc lại bài thơ vài lần để chắc chắn mình không viết sai gì. Nhưng sau đó, một số câu hỏi mới xuất hiện trong đầu anh:

“Hoàng Hà là cái gì? Thái Hành lại là cái gì? Hai câu ‘Nhàn lai thùy điệu Bích Khê thượng’ và ‘Hốt phục thừa chu mộng Nhật biên’ có ý nghĩa gì?”

Hứa Nhị Lang cau mày.

Là một người am hiểu về thơ văn, Hứa Tân Niên cố gắng tìm hiểu nhưng không thể tìm ra thông tin về Hoàng Hà và Thái Hành. Theo những gì anh biết về thơ ca, hai câu trên có lẽ là dựa trên các điển tích cụ thể.

“Anh trai thật là không suy nghĩ kỹ… Viết thơ mà không ghi chú giải thích, làm sao em có thể hiểu được tâm trạng và ý đồ sâu sắc của anh ấy khi viết bài thơ này chứ?”

“Hoàng Hà và Thái Hành chắc hẳn là tên của những con sông và ngọn núi; điều này có thể thay đổi được. Còn hai câu ‘Nhàn lai thùy điệu Bích Khê thượng’ và ‘Hốt phục thừa chu mộng Nhật biên’, dù không có điển tích cụ thể, thì ý nghĩa mà chúng muốn truyền đạt cũng không quá khó hiểu… Vấn đề không lớn đâu.”

Và thế là, sau khi thay đổi tên “Hoàng Hà” và “Thái Hành”, Hứa Tân Niên bắt đầu viết câu trả lời:

“Phú Đức Hành Lộ Khó”

Những người chịu trách nhiệm chấm thi kỳ này gồm Đại học sĩ Đông Các Triều đình Zhao Tingfang, Thượng thư Bên phải Liu Hong, cùng với Đại học sĩ Vũ An Điện Qian Qingshu.

Khác với các thí sinh, những người chấm thi và giám khảo từ khi kỳ thi bắt đầu đã không rời khỏi khu vực thi cử một bước nào; cánh cửa được khóa chặt, trừ khi họ có cánh, còn không thì không thể ra ngoài được.

Để ngăn chặn tình trạng các giám khảo thông đồng với thí sinh gây ra gian lận, họ chỉ được phép rời đi sau khi danh sách các thí sinh đỗ đã được công bố.

So với hai kỳ chấm thi trước đó, thái độ và tâm trạng của các giám khảo đã thay đổi rất nhiều.

“Chẳng hiểu cái quái gì cả, làm sao dám đưa những bài thơ tồi tệ như vậy ra thi.”

“Dùng tre để ẩn dụ con người, để bày tỏ tâm huyết… Góc độ thì không tồi, nhưng việc miêu tả về tre nhiều hơn là bày tỏ tâm huyết thì hoàn toàn sai lầm.”

“Ài, xem mãi mà không có bài thơ nào thực sự xuất sắc cả.”

“Năm trước cũng vậy mà, đã quen rồi.”

Các giám khảo chấm thi còn được gọi là “quan bên trong rèm”; họ vừa chấm thi vừa đưa ra những nhận xét. Nhìn bề ngoài có vẻ căng thẳng, nhưng thực ra họ đang làm việc một cách thoải mái và tự nhiên.

Những bài thơ này không được coi trọng lắm; nếu làm tốt thì càng tốt, còn nếu không thì cũng chẳng sao cả. Dù sao thì chúng cũng chỉ là những bài thơ tầm thường mà thôi; những bài thơ do các thí sinh viết ra, nếu chỉ đủ tiêu chuẩn thì đã là điều hiếm có rồi, không đáng để các giám khảo quá coi trọng.

Ở kinh thành này, nếu nói về thơ ca, thì không thể không nhắc đến một người – đó chính là người gác đêm Hứa Thất An. Người này được giới học giả tôn sùng như là người đứng đầu lĩnh vực thơ ca, hoặc nói cách khác, là “vị cứu tinh” của giới thơ ca.

“Nếu Hứa Thất An tham gia kỳ thi này, ít nhất là trong năm nay, chắc chắn sẽ có một bài thơ bất hủ được ra đời.”

“Ai lại không nghĩ vậy chứ… Tiếc là Hứa Thất An không phải là người học vấn; nếu sau này sử sách ghi chép rằng tất cả những bài thơ hay trong năm Nguyên Cảnh đều do ông ta sáng tác, thì chúng ta, những người học vấn, sẽ mất mặt biết bao.”

Thái độ của giới học giả đối với Hứa Thất An rất phức tạp: một mặt họ vui mừng vì sự trỗi dậy của ông ta đã giúp cho trong hai trăm năm qua chúng ta có được một số bài thơ đáng tự hào, không phải phải chịu sự chế giễu của hậu thế.

Mặt khác, họ cũng tiếc nu

Trải qua hai trăm năm, ở Đại Phụng có vô số người học vấn, nhưng không ai sánh kịp một Vũ Phu cả.

  “Dù sai lầm đến đâu, tất cả đều là lỗi của Hứa Bình Chí.”

  Đúng lúc này, một viên chức chấm thi mở ra một bài thi được sao chép lại, quan sát kỹ trong vài giây, anh ta bỗng đứng sững người, như thể đã hóa đá, không thể nhúc nhích được.

  Nhưng miệng anh ta vẫn không ngừng lẩm bẩm đi lẩm bẩm lại.

  Sau vài phút, viên chức chấm thi đó đột nhiên đứng dậy, nhìn quanh các đồng nghiệp trong phòng, hít một hơi thật sâu rồi nói một cách quả quyết: “Ai nói rằng người học vấn ở Đại Phụng không thể viết nên những bài thơ hay? Ai nói vậy? Ai?”

  Các viên chức chấm thi khác đều nhìn anh ta với vẻ mặt bối rối, không hiểu anh ta đang phát điên gì.

  Thực tế là giới thơ ca đã suy yếu trong hai trăm năm nay; người học vấn đương đại không giỏi về thơ văn – những điều này đều là sự thật, không có gì để tranh luận cả.

  “Bạch!”

  Viên chức chấm thi đó vung bài thi xuống bàn, ngực phập phồng vì xúc động: “Tôi dám chắc rằng, khi bài thơ này được công bố, nó chắc chắn sẽ nổi tiếng khắp thiên hạ. Kỳ thi năm nay chắc chắn sẽ được các sử gia ghi chép lại.”

  Một viên chấm thi bên cạnh liếc nhìn anh ta, tò mò tiến lại gần, cầm lấy bài thi và nhìn kỹ.

  Cơn cuồng nhiệt dường như lan truyền; các viên chấm thi đều run rẩy vì xúc động khi cầm trên tay bài thơ ấy: “Thật là một bài thơ hay! Ai nói rằng người học vấn ở Đại Phụng không thể viết nên những bài thơ hay? Ai nói vậy?”

  Lúc này, các viên chấm thi khác cũng nhận ra rằng đã có một tác phẩm xuất sắc ra đời, họ đổ xô đến xem xét và bình luận về nó.

  “Thật là một bài thơ hay… Nên uống một ly rượu để mừng đi!”

  “Rồi sẽ đến lúc chúng ta vượt qua mọi khó khăn, buộc những con thuyền mây lên để vượt qua biển cả… Đó mới là những gì người học vấn nên viết.”

  “Làm sao một sinh viên lại có thể viết nên một bài thơ đầy ý nghĩa như vậy?”

  “Có lẽ là do anh ta đã nhiều lần thi không đỗ, và muốn ghi lại tâm trạng của mình qua bài thơ này…”

  Sự xuất hiện của bài thơ “Hành Lộ Khó” giống như việc một con chim phượng hoàng vàng lẫn vào đàn gà đồng, vô cùng quý giá. Tất cả các viên chấm thi trong phòng đều truyền tay nhau đọc và bình luận về nó một cách hào hứng.

  “Khà khà!”

  Tiếng ho khan mạnh mẽ vang lên từ bên ngoài cửa

Đại học sĩ Đông Các nhìn quanh mọi người một lượt trước khi nhận lấy bài thi, rồi nheo mắt đọc nó. Bàn tay cầm bài thi của ông run rẩy nhẹ.

Bất kỳ ai cũng có thể nhận ra đây là một bài thơ tuyệt vời, một bài thơ truyền cảm hứng mạnh mẽ.

Nhưng những trải nghiệm khác nhau sẽ mang lại những cảm nhận khác nhau.

Bài thơ này vừa thể hiện tinh thần cao cả, vừa ghi lại những gian khổ trong cuộc sống. Từ “Trái tim mê muội, con đường đi khó khăn” đến “Rồi sẽ đến lúc gió lớn phá sóng, buồm cao bay qua biển xanh”, bất kỳ ai từng trải qua những điều tương tự đều có thể cảm thông sâu sắc với nó.

Và câu cuối cùng không chỉ thể hiện tinh thần cao cả, mà còn là điểm nhấn quan trọng, nâng tầm ý nghĩa của toàn bộ bài thơ lên một tầm cao mới.

“Chàng trai này chắc chắn là một tài năng lớn. Nếu cả các bài thi về kinh điển và chiến lược đều xuất sắc, ta nhất định sẽ chọn anh ta làm người đứng đầu!” Đại học sĩ Đông Các nghĩ thầm.

Ngày hôm sau khi kỳ thi xuân kết thúc, Hứa Tân Niên nhận ra rằng sự đối xử của gia đình dành cho mình đã thay đổi hoàn toàn. Trước đây, mỗi buổi sáng, mẹ luôn chuẩn bị sẵn một bát sữa nóng cho anh. Buổi trưa là canh gà thơm ngon, buổi tối là canh nhân sâm. Mẹ cũng luôn quan tâm đến sức khỏe của anh, dù không có những hành động cụ thể nào, nhưng đã thể hiện sự quan tâm đủ rõ ràng. Cha và anh trai cũng thường xuyên hỏi thăm anh trên bàn ăn; em gái Hứa Lăng Nguyệt cũng vậy, thậm chí cả em út Xu Lingyin đôi khi cũng nhắc nhở anh: “Anh trai hai, hãy cố gắng học hành chăm chỉ nhé!”

Nhưng kể từ khi kỳ thi cuối cùng kết thúc, sữa không còn nữa, canh gà không còn nữa, canh nhân sâm cũng không còn nữa… Sau khi hỏi xong ngày nào sẽ công bố kết quả thi, mọi người đều không còn quan tâm nhiều nữa.

Trên bàn ăn, Hứa Thất An hỏi: “Sao anh hai có vẻ không vui vậy? Phải chăng là do kỳ thi cuối cùng không thành công?”

Hứa Nhị Lang không nói gì, sau bữa ăn, anh kéo anh trai vào phòng đọc sách và nhìn thẳng vào mặt anh trai: “Anh trai, anh đã đáp đúng câu hỏi đó.”

Đối với kết quả này, Hứa Thất An vừa ngạc nhiên vừa không ngạc nhiên, anh gật đầu và hỏi: “Câu hỏi đó nói về lòng yêu nước hay về tinh thần cao cả?”

“Là về tinh thần cao cả!”

Hứa Tân Niên hỏi tiếp: “Dòng Sông Hoàng Hà và dãy núi Thái Hành nằm ở đâu? ‘Thời gian rảnh rỗi, tôi thích đi câu trên dòng suối xanh; đôi khi

1/1 0%