lore

Chương 93: Đầu hàng vô điều kiện

7,269 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Các cuộc chiến tranh ở châu Âu vẫn chưa chính thức kết thúc, nhưng trong mắt Koman, chỉ còn lại một hiệp ước duy nhất. Trong vài năm tới, Đức sẽ phải trải qua những khó khăn, nhưng thời gian đó cũng không quá dài.

Koman nhớ rằng vào năm 1949, thu nhập bình quân đầu người của Đức đã vượt qua Anh; đúng vậy, mọi thứ diễn ra nhanh đến thế.

Một mặt là do những vấn đề nội bộ của chính Anh, mặt khác là vì Mỹ đã giúp Đức có được điểm xuất phát cao hơn. Mặc dù sau chiến tranh, Mỹ đã hỗ trợ các nước phe Trục, nhưng điểm xuất phát của các nước này hoàn toàn khác nhau.

Nhật Bản là ví dụ điển hình: Nhật Bản đã được Mỹ mở cửa thị trường và được hỗ trợ trong thời gian dài, từng bước leo lên trong chuỗi sản xuất công nghiệp để đạt được thành tựu như hiện nay.

So với Đức, nền tảng kinh tế của Nhật Bản ban đầu rất yếu; mặc dù Nhật Bản đã có “phép màu kinh tế”, nhưng quá trình phục hồi của họ kéo dài khá lâu. Trong khi đó, Đức có nền tảng tốt hơn nhiều, và Mỹ cũng đã mang đến cho họ những điều kiện ưu việt hơn.

Có thể nói rằng ngành công nghiệp của Đức đã bị phá hủy nặng nề, nhưng những gì còn lại vẫn rất lớn mạnh. Đức cũng dễ dàng hơn Nhật Bản trong việc tiếp cận thị trường Mỹ, với ít hạn chế hơn nhiều.

Những điều kiện này không chỉ đơn thuần là số tiền được cung cấp thông qua Chương trình Marshall, mà còn bao gồm nhiều quy định về thuế quan. Những quốc gia như Anh vẫn giữ được một số sức mạnh nhất định, và vẫn bị Mỹ hạn chế một cách kín đáo; làm sao có thể nói đến tự do thương mại được?

Nếu không phải vậy, thì máy bay phản lực của Anh đã sớm được phép bay trên bầu trời Mỹ, thay vì phải chờ đến khi Boeing tung ra sản phẩm mới được phép mở cửa thị trường.

Thực chất, hiệp ước liên quan đến sau Thế chiến II chính là Hiệp ước Paris năm 1947. Lúc đó, Mỹ và Liên Xô đã bắt đầu tỏ ra thù địch rõ ràng với nhau, vì vậy văn bản của hiệp ước chính thức chỉ là cái cớ để che đậy những mục đích thực sự. Nếu xem xét kỹ lưỡng, sẽ thấy rằng ngoại trừ những điều khoản về việc thiết lập liên minh giữa hai bên, phần còn lại đều khá trống rỗng.

Đặc biệt là những suy ngẫm và nhận thức về cuộc chiến tranh châu Âu lần này, hoàn toàn khác so với thời điểm chiến tranh kết thúc vào năm 1945. Còn về những vấn đề mà các chính trị gia quan tâm nhất, như bồi thường chiến tranh và xử lý các khu vực chiếm đóng, thì đã có nhiều cuộc thảo luận kéo dài.

Vì vậy, mặc dù Koman chỉ là một sĩ quan cấp trung úy, nhưng anh vẫn cố gắng

Vấn đề lớn nhất hiện nay là làm thế nào để chuyển từ trạng thái chiến tranh sang phát triển hòa bình; Anh chính là quốc gia không thể thoát khỏi tình trạng này, vì vậy mà sau chiến tranh, họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phục hồi.

Nền kinh tế nội địa của Anh ngay từ đầu đã không mấy ổn định, và sau khi liên tục đầu tư mạnh mẽ vào chiến tranh trong thời gian qua, cấu trúc kinh tế mất cân đối đã bắt đầu lộ ra những thiếu sót từ trước đây, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các nhu yếu phẩm sinh hoạt.

Ngay cả giá trị của đồng bảng Anh cũng bắt đầu trở nên không ổn định. Nếu không phải vì quân đội Anh liên tục giành được chiến thắng trên chiến trường, mang lại cho người dân cảm giác tự hào và giúp họ kiên nhẫn hơn trước những khó khăn trong cuộc sống thực tế, thì tình hình chính trị nội địa của Anh có lẽ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những vấn đề kinh tế.

Pháp cũng gặp phải những vấn đề tương tự, nhưng không nghiêm trọng bằng Anh. Tình hình của Anh đã đến mức ngay cả Khối Thịnh vượng chung cũng khó có thể giúp đỡ họ được.

Nếu không, Churchill sẽ không phải là người gặp thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử ngay sau khi Đức bị đánh bại.

Người dân Anh cũng cần phải ăn uống, họ không thể sống bằng đạn pháo hay dầu máy; Pháp cũng vậy. Nếu không, làm sao Comen có thể quan tâm đến các tài khoản riêng tư của giới lãnh đạo Đức tại các ngân hàng Thụy Sĩ?

Sự kết thúc của chiến tranh là điều tốt đẹp đối với tất cả các quốc gia tham gia, không chỉ đối với Đức. Tất cả các cường quốc tham chiến đều đã kiệt sức cả về thể xác lẫn tinh thần.

Đô đốc Hải quân Dönitz, người đã kế vị vị trí nguyên thủ quốc gia theo di chúc, đã đoán trước được số phận của mình sau chiến tranh, nhưng vẫn cố gắng hết sức để giúp Đức tránh khỏi kết cục tồi tệ nhất.

Nhóm đàm phán của Đức đã xuất hiện tại trụ sở của phe Đồng minh ở Mặt Trận Tây, cố gắng duy trì danh dự cho Đức, mặc dù tất cả mọi người ở Đức, bao gồm cả Dönitz, đều biết rằng cơ hội rất mong manh.

Theo lời của Đỗ Vương, Đức không còn bất kỳ lá bài nào trong tay nữa; tiếp tục chiến đấu chỉ khiến cho các nước Đồng minh phải chịu thêm những tổn thất, trong khi mỗi ngày Đức tiếp tục kháng cự đều đồng nghĩa với việc mất đi nhiều lợi ích.

Trong bối cảnh như vậy, các cường quốc phương Đông hiểu rõ nhất về tình hình tại Hội nghị Paris; những cuộc đàm phán đó chỉ là những lời nói vô nghĩa trước mặt những người chiến thắng mà thôi. Phe Đồng minh quyết định tiếp đón đại diện Đức

Cánh cửa mở ra, Trung tướng Walter Bedell Smith, tham mưu trưởng của Eisenhower, bước vào phòng.

Ông ta có vóc dáng gầy gò và ánh mắt sắc bén; không hề lãng phí lời chào hỏi: “Tướng, tôi đoán ông đến đây để thảo luận về việc đầu hàng phải không?”

Tướng Friedberg cảm thấy cổ họng mình nghẹn lại: “Tướng, theo lệnh của Đại đốc Đô đốc Dönitz, tôi muốn thảo luận về khả năng thiết lập lệnh ngừng bắn tạm thời ở Mặt trận Tây. Điều này sẽ giúp tránh những tổn thất không cần thiết…”

“Đầu hàng vô điều kiện,” Tướng Walter ngắt lời ông, “Không có chỗ cho việc thương lượng. Thái độ của Tướng Eisenhower rất rõ ràng.”

“Nhưng hàng triệu dân thường ở Mặt trận Đông…” Tướng Friedberg cảm thấy bất lực; ông không biết từ ngữ đó, nhưng ông hoàn toàn hiểu được ý nghĩa của nó.

“Chính các người đã đẩy họ vào tình thế nguy hiểm,” Tướng Walter nói lạnh lùng, “Bây giờ mới nghĩ đến nhân đạo à? Năm 1942, hải quân của các người ở đâu?”

Mặt Tướng Friedberg đỏ bừng. Ông muốn tranh luận rằng hải quân chỉ tuân theo mệnh lệnh, nhưng khi lời nói đến miệng, chúng chỉ trở thành những lời biện hộ yếu ớt: “Đại đốc Đô đốc Dönitz muốn giảm thiểu số thương vong của cả hai bên…”

Tướng Walter đưa cuộc trò chuyện trở lại với vấn đề chính: “Thủ tướng của các người đã tự sát, quân đội Xô Viết đã chiếm giữ Tòa nhà Quốc hội. Hamburg, Munich, Nuremberg đều nằm trong tay chúng ta. Đức đã thua trận rồi, tướng ạ. Lựa chọn duy nhất của các người là khi nào và như thế nào để thừa nhận sự thật đó.”

“Hiện tại chúng ta không đang trong quá trình đàm phán. Có lẽ ông không thể chấp nhận thực tế, nhưng thực tế là Tổng thống Roosevelt của chúng ta đã nói rõ từ lâu rồi: đầu hàng vô điều kiện. Nếu không cố gắng đạt được điều gì, thì bạn sẽ không thể có được bất cứ thứ gì.”

Cuối cùng, Tướng Friedberg đã gửi điện báo tuyệt vọng đến Đại đốc Đô đốc Dönitz: “Phe Đồng minh kiên quyết yêu cầu đầu hàng vô điều kiện. Eisenhower đe dọa rằng nếu không chấp nhận ngay lập tức, tất cả các tuyến đường di tản của người dân sẽ bị chặn lại.”

Thái độ của Eisenhower cũng giống như vậy; câu trả lời của ông rất ngắn gọn và khắc nghiệt: “Trong vòng 48 giờ, hãy ký vào văn bản đầu hàng vô điều kiện; nếu không, tất cả các đơn vị quân đội Đức vẫn tiếp tục kháng cự sẽ bị coi là những kẻ chiến đấu bất hợp pháp và sẽ không được đối xử như tù binh.”

Vào ngày 8 tháng 5, Jodl mới biết rằng việc thiết lập lệnh ngừng bắn tạm thời là không thể và Đức đã ký vào văn bản đầu hàng vô đi

1/1 0%