lore

Chương 264: Cuộc tranh giành các tuyến đường biển

10,028 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Pháp cuối cùng vẫn đồng ý sáp nhập vào các khu vực do Anh và Mỹ chiếm đóng. Khi tin này đến Moskva, Beria vội vàng đến Điện Kremlin để báo cáo tình hình nghiêm trọng với Stalin: “Tổng Bí thư ơi, có vẻ như những nỗ lực của chúng ta nhằm bảo vệ tính toàn vẹn của Đức đã thất bại; Mỹ quyết tâm chia cắt Đức.”

Từ tháng Tư, phía Xô Viết bắt đầu kiểm tra giấy tờ của tất cả người Mỹ đi qua khu vực do Xô Viết chiếm đóng, cũng như kiểm tra mọi vật phẩm khác ngoài hàng hóa vận chuyển và hành lí cá nhân.

Xô Viết bắt đầu áp đặt một loạt biện pháp hạn chế giao thông đường bộ tại Berlin, hy vọng rằng những biện pháp đối phó này có thể gây áp lực lên Mỹ.

Nhưng hiện tại, Mỹ hoàn toàn phớt lờ những cảnh báo của Xô Viết và vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp cải cách hệ thống tiền tệ trong các khu vực do Anh và Pháp chiếm đóng. Đây là những hành động nhằm thực hiện Kế hoạch Marshall ở phía Tây, gây ra sự chia cắt nghiêm trọng cho Đức.

“Chát!” Stalin châm điếu thuốc, ngập trong làn khói, sau một lúc mới nói: “Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến tranh thế giới. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốcist coi rằng họ có ưu thế về quân sự, sự thù địch của họ đối với tổ quốc của giai cấp vô sản đã không thể che giấu được nữa. Chúng ta phải thừa nhận rằng những kích động của Churchill đã có tác dụng, còn Truman thì không hề thông minh bằng Roosevelt. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng về mặt quân sự.”

Ngay khi Stalin nói xong, Bộ trưởng Quốc phòng Bulganin lập tức trả lời: “Chúng tôi dự định sử dụng mười năm để xây dựng một lực lượng vũ trang hoàn toàn mekan hóa. Hiện nay, chỉ có Quân đội Đỏ Xô Viết mới là niềm tin đáng tin cậy để chúng ta đối phó với chủ nghĩa đế quốcist. Việc xây dựng quân đội quan trọng đến mức không thể nhấn mạnh quá mức.”

Hiện nay, các đội xe tăng của Xô Viết đã hoàn thành việc trang bị thiết bị mekan hóa, nhưng việc xây dựng các sư đoàn bộ binh cơ giới vẫn chưa hoàn thành; Bộ Quốc phòng ước tính cần ít nhất từ năm đến mười năm để hoàn thành công việc này.

“Chúng ta phải tăng tốc độ, đặc biệt là tiến độ phát triển vũ khí hạt nhân.” Stalin nói với giọng lạnh lùng. Trong những cuộc tranh chấp giữa Mỹ và Xô Viết sau chiến tranh, Mỹ luôn dựa vào vũ khí hạt nhân để hành động mà không quan tâm đến sự phản đối của Xô Viết; về cơ bản, đó là vì Mỹ tin rằng họ có thể kiểm soát thế giới.

“Đồng thời, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Lần này, chúng ta không thể tiếp tục nhẫn nhục nữa. Tây Berlin n

Koman vừa mới đặt chân xuống Marseille thì ngay lập tức mua một tờ báo, trên đó đăng tin về việc khu vực do Pháp chiếm đóng và khu vực do Anh-Mỹ kiểm soát được sáp nhập lại với nhau, cùng với thông tin về việc Đức sắp tiến hành cải cách tiền tệ.

Khủng hoảng Berlin! Koman nhướng mày, biết rằng đây chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng Berlin, và Liên Xô lúc này chắc hẳn đã phải chuẩn bị các biện pháp đối phó.

Tuy nhiên, có lẽ Stalin cũng không hiểu rõ về ưu thế hàng không của Anh-Mỹ vào thời điểm đó; ông ấy không thể ngờ rằng chỉ nhờ vào các máy bay vận tải, Anh-Mỹ có thể chi trả mọi chi phí cho một thành phố có dân số gần hai triệu người.

Phải nói rằng Hoa Kỳ ngày nay thực sự rất mạnh mẽ; sức mạnh đó đã được các cường quốc phương Đông nhận thức rõ trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên vài năm sau đó. Chỉ nhờ vào sức mạnh công nghiệp, họ đã tạo ra con đường thoát sinh tại Trận Chiến ở Hồ Trường Tân, điều này gần như vượt qua sự hiểu biết của các cường quốc phương Đông… Làm sao có thể nhanh đến thế?

Con đường hàng không mà Anh-Mỹ thiết lập trong khủng hoảng Berlin đã giúp các nước phương Tây tăng thêm sự tự tin trong việc đối đầu với Liên Xô.

Tất nhiên, không phải tất cả đều là lợi ích; Anh-Mỹ cho rằng ưu thế hàng không của mình cũng được củng cố đáng kể trong khủng hoảng Berlin, và sau đó họ đều đầu tư rất nhiều nguồn lực để phát triển lực lượng không quân, hy vọng có thể duy trì ưu thế này để áp đảo Liên Xô.

Nhưng kết quả thì sao? Khi các loại tên lửa bắt đầu phát huy tác dụng, số lượng máy bay ném bom mà Anh-Mỹ sở hữu trở nên vô ích trước sự tấn công của tên lửa đất-không.

Đối với Mỹ, tình hình vẫn còn chấp nhận được; họ có thể tiếp tục phát triển tên lửa. Nhưng đối với Anh thì khác hẳn: Hải quân Hoàng gia buộc phải nhường chỗ cho không quân, và những chiếc máy bay ném bom mà họ đã tích lũy được thì trở nên lỗi thời, không còn giá trị nữa.

Những chi phí đã bỏ ra khiến tốc độ cập nhật vũ khí của Anh bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến việc nhiều dự án quân sự bị trì hoãn.

“Đang nhìn cái gì vậy?” Eva Gardner thấy Koman nhăn mặt khi đọc tờ báo liền tiến lại gần và hỏi nhẹ.

“Một cuộc khủng hoảng lớn sắp xảy ra,” Koman đặt tờ báo xuống và nói. “Nạn nhân tiếp theo của khủng hoảng Berlin chắc chắn sẽ là Ông Chang.” Khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau tại Berlin, Ông Chang đã gánh chịu những hậu quả nặng nề; đến khi khủng hoảng Berlin kết thúc, thì mọi thứ đã quá muộn để cứu vãn.

“Bí mật quá…” Eva Gardner nhìn Koman với vẻ nghi ngờ, nghĩ rằng người đàn ông của m

Rất nhiều sĩ quan Anh đang chỉ huy các cuộc chiến ở Pakistan và Jordan, sau đó lại cùng Mỹ tham gia các trận không chiến tại Berlin? Với Mỹ thì chưa sao, nhưng liệu Anh có chịu đựng nổi sự tiêu hao này không?

Công ty máy bay Bad nằm ngay tại Marseille, và đây cũng là ý kiến của Comman. Mặc dù việc sản xuất máy bay tại đây đã mang lại thành công lớn, nhưng xét cho cùng, mọi người đều là người Pháp, vì vậy Comman vẫn cảm thấy có chút áy náy. Trong tâm trạng đó, việc đặt đội ngũ Bad tại Marseille cũng coi như một cách bù đắp.

Nhà máy của công ty Bad không hề nổi bật từ bên ngoài, nhưng khi bước vào bên trong, bạn sẽ cảm thấy khó có thể diễn tả bằng lời. Không gian bên trong nhà máy rộng lớn đến mức khiến con người mất đi cảm giác về kích thước; nó giống như một thành phố trong lòng đất vậy.

Trong không khí có mùi kim loại và dầu máy nhẹ nhàng, nhiệt độ vừa phải và thông gió rất tốt. Phía trên là hệ thống khung thép dày đặc và các thiết bị chiếu sáng, phía dưới là nền đất vững chãi, nơi các phương tiện công nghiệp di chuyển liên tục.

Comman không vội vàng trở về Paris ngay, mà đến đây để kiểm tra tiến độ sản xuất loại máy bay phản lực hành khách này. Các bộ phận lớn của máy bay như thân máy, cánh, đuôi… đều đang được đặt ở các vị trí cố định và không hề di chuyển. Trong chốc lát, ông cũng không biết được tiến độ sản xuất của chiếc máy bay này đang ở mức nào.

“Đại úy Comman, ông đến đây để kiểm tra tiến độ à?” Kỹ sư trưởng của công ty Bad, người biết Comman đã đến, đặt xuống công việc đang làm và tiến lên gặp ông. “Ông đến để thúc giục chúng tôi nhanh chóng hoàn thành công việc phải không?”

“Tuyệt đối không phải vậy. An toàn luôn là ưu tiên hàng đầu,” Comman phủ nhận một cách quả quyết. Rất nhiều ngành công nghiệp trên thế giới này có thể được mô tả bằng các công thức khoa học, và chỉ cần áp dụng những công thức đó vào quá trình sản xuất là được.

Nhưng có rất nhiều ngành công nghiệp không thể áp dụng hoàn toàn các công thức khoa học; ngành hàng không chính là một ví dụ điển hình. Xét về mặt toán học, các kỹ sư biết cách thiết kế những chiếc máy bay có thể bay ở độ cao lớn, nhưng các công thức toán học không thể giải thích được nguyên nhân tạo ra lực nâng khí động học.

Mỹ thậm chí còn rất tự tin vào thế kỷ 21, từ bỏ ý định xây dựng các đường hầm gió siêu âm tốc, thay vào đó sử dụng máy tính để mô phỏng dữ liệu. Kết quả là họ không thể chế tạo được tên lửa siêu âm tốc hay máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu; trong khi đó, những quốc gia Đông Á vẫn tiếp tục xây dựng các đường hầm gió một cách nghiêm túc và đã sản xuất ra những sản phẩm hoàn chỉnh.

Thực t

Phản ứng này khiến Bard rất hài lòng. Đức đã sử dụng rộng rãi công nghệ đường hầm gió trong thời kỳ chiến tranh, không chỉ trong lĩnh vực chế tạo máy bay mà còn thu thập được rất nhiều dữ liệu quan trọng liên quan đến việc phóng tên lửa.

Tuy nhiên, những dữ liệu quý báu này hiện nay đều thuộc về Washington và Moscow, vì vậy đội ngũ của Bard phải bắt đầu lại từ đầu.

Koman đến đây chỉ để nói những lời khen ngợi, sử dụng giọng điệu khích lệ cùng một số lời nói đầy tính cổ vũ để nâng cao tinh thần của đội ngũ, sau đó ông ta liền rời đi, quyết đoán và nhanh chóng.

Thời gian nghỉ phép trở về nước lần này, Koman lại trùng hợp với một loạt các sự kiện nổi bật. Một trong những sự kiện đó là Philip De Gaulle được thăng chức lên cấp đại úy, và thiết kế tàu sân bay với lớp giáp hình góc và hệ thống hỗ trợ dựa trên cảm biến ánh sáng cũng đã nhận được sự công nhận rộng rãi từ Hải quân Pháp. Philip De Gaulle trở thành một ngôi sao mới trong phe ủng hộ việc phát triển tàu sân bay của Pháp.

Koman tin rằng tất cả những điều này đều nhờ vào tài năng cá nhân của Philip De Gaulle, và hoàn toàn không liên quan đến việc ông ta là con trai của Tướng de Gaulle – người anh hùng dân tộc của Pháp và người sáng lập nên nước Cộng hòa Tự do Pháp.

Lý do gọi phe này là “phe ủng hộ tàu sân bay” là bởi vì vào cuối thế kỷ XIX, Pháp đã quyết định theo đuổi con đường được gọi là “con đường tiến nhanh thông qua hoạt động trên mặt biển”. Theo con đường này, trọng tâm xây dựng quân đội Hải quân Pháp là tạo ra một lực lượng hải quân mạnh mẽ, nhằm bảo vệ quyền lợi hàng hải trong vùng biển gần, bao gồm cả Địa Trung Hải.

Trong khi đó, tàu sân bay – loại hình tàu chiến này – hoàn toàn không liên quan đến con đường “tiến nhanh thông qua hoạt động trên mặt biển”; ngược lại, đại diện cho con đường này hiện nay chính là phe ủng hộ việc phát triển tàu ngầm.

“Điều này à?” Koman nghe Martin đề cập đến cuộc tranh luận về hướng phát triển của Hải quân Pháp, và tự hỏi tại sao ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều xuất hiện những cuộc tranh luận tương tự. Ít nhất thì ông ta biết rằng cả Trung Quốc và Liên Xô cũng đã từng có những cuộc tranh luận như vậy.

Ở Liên Xô, phe ủng hộ tàu sân bay của Hải quân Đỏ đã phải chịu sự áp đảo lâu dài từ phe ủng hộ tàu ngầm; còn đối với các cường quốc Đông Á thì vấn đề khá đơn giản: họ không có đủ nguồn lực để thực hiện những kế hoạch lớn.

Không có đủ nguồn lực? Điều này thực sự có thể giải thích được cuộc tranh luận hiện nay trong Hải quân Pháp. Hải quân không phải là lực lượng quân sự có thể vận hành m

1/1 0%