lore

Chương 2: Tuyển mộ binh sĩ

7,347 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Famati thở dài một hơi, vì cùng tuổi với Koman, cô không suy nghĩ nhiều mà bắt đầu than phiền: “Anh ấy đúng là như vậy… Dù chênh lệch tuổi tác lớn như vậy, anh ấy không nên đối xử tốt hơn với em sao…”

Cứ coi như anh ấy không hỏi gì cả! Koman suy nghĩ mãi và cảm thấy rằng vấn đề có lẽ nằm ở chính mình.

Hiện tại, Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Syria, ông Fontaine, cũng xuất thân từ lực lượng lính nước ngoài của Pháp. Một điểm khác biệt nữa là ông Fontaine đã tham gia Thế chiến thứ nhất; điều này cũng không phải là vấn đề gì lớn. Vấn đề nằm ở việc khi mới trưởng thành, ông Fontaine đã nhập ngũ vào thời điểm phong trào “Bàn tay trắng” bùng nổ tại Pháp.

Điều này khác với cha của Koman; ông Fontaine bị buộc phải nhập ngũ do ảnh hưởng của phong trào “Bàn tay trắng” lan rộng sang xã hội Pháp. Vì vậy, mặc dù là một quân nhân, nhưng ông Fontaine lại cảm thấy ghét bỏ chiến tranh, và quan điểm của ông về phụ nữ… nói chung, không mấy tốt đẹp.

Chính điều này mà Koman đã biết được. Lúc đó, Koman muốn thể hiện sức mạnh của mình trong lĩnh vực “Keydo”, nên đã đề cập trước mặt ông Fontaine về tương lai của các phong trào tương tự như “Bàn tay trắng”. Điều này khiến thái độ của ông Fontaine đối với phụ nữ càng trở nên tồi tệ hơn.

Còn Famati – người phụ nữ rõ ràng mang đậm tính cách Ả Rập và có địa vị ngang bằng với vợ ông Fontaine – thì chỉ là sản phẩm của ham muốn cá nhân mà thôi.

Lương tâm và sự công bằng… Khi đó Koman còn rất trẻ, mới chỉ 14 tuổi vào năm 1941; làm sao anh có thể biết được những chuyện liên quan đến phong trào “Bàn tay trắng” của ông Fontaine? Chỉ là nói qua loa thôi, nhưng người ta lại nhớ kỹ.

Koman rất quen thuộc với dinh tổng đốc, nên anh trực tiếp đến văn phòng của ông Fontaine. Trước ánh mắt của Famati, anh bước vào và ngay lập tức nhìn thấy Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Syria lúc bấy giờ – ông Fontaine. “Tướng Fontaine.”

“À, Koman I đã đến rồi.” Nhìn thấy Koman, khuôn mặt căng thẳng của ông Fontaine bỗng nhiên thoải mái ra, ông cười nói: “Gọi tôi là tướng thì quá xa cách rồi; chúng ta đâu phải người ngoài đâu.”

“Khi làm việc thì nên gọi theo chức vụ để trang trọng hơn,” Koman cũng thể hiện ra chút tính cách của một thiếu niên: “Trước đây khi tôi còn nhỏ, những lời nói của tôi không thể được coi là nghiêm túc đâu.”

Đối với vị Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Syria này, sau khi bắt đầu quen biết nhau từ thời điểm phong trào “Bàn tay trắng”, ông Fontaine đã coi Koman như một đồ

“Gì cơ, là may mắn thôi.” Tướng Phương Đan lắc đầu nhẹ, nếu không phải vì Đức Giô-đéc-xô-lông rơi vào tình thế khó khăn và không có điều kiện đối đầu với Đại tướng Giraud, lại đúng vào lúc quân Anh tấn công Syria, thì một số sĩ quan Pháp đã tiến hành cuộc đảo chính; có lẽ ông ấy đã nghỉ hưu hoặc vẫn chỉ là một trung úy, và cấp bậc thiếu tá của ông dưới chính quyền Vichy cũng sẽ bị tước bỏ.

Sau cuộc đảo chính trong cuộc họp quân sự, các binh sĩ Pháp tại Syria đã trở thành người ủng hộ Đức Giô-đéc-xô-lông. Với sự tự tin đầy đủ, Đức Giô-đéc-xô-lông đã tham gia Hội nghị Casablanca và giành được quyền lãnh đạo phong trào Kháng chiến Pháp, đánh bại Đại tướng Giraud.

Cho đến bây giờ, khi nhớ lại, tướng Phương Đan – một người lính ghét bỏ chiến tranh – vẫn cảm thấy ngạc nhiên vì mình đã trở thành một tướng. May mắn thay, ông không cần phải ra trận chiến đấu đến mức liều mạng như trong Thế chiến thứ nhất; điều đó thật tốt.

Nhưng tướng Phương Đan biết rằng Koman thì khác. Cậu bé này luôn háo hức muốn tham gia chiến tranh, dường như cho rằng một cuộc Thế chiến là điều tuyệt vời.

Tất nhiên rồi… Hỗn loạn chính là bậc thang để thăng tiến. Koman hiểu rõ rằng nếu không tham gia vào cuộc chiến này, thì sẽ quá muộn. Đức đã thất bại rõ ràng, và bây giờ chính là lúc để tận dụng tình huống này.

Biết điều này, tướng Phương Đan không khỏi cười buồn và nói: “Cậu sắp theo sư trưởng ra trận à? Toàn bộ đơn vị đều là những người trẻ tuổi; nói ra cũng chẳng ai tin đâu… Một thuộc địa lại có thể huy động được nhiều người đến thế.”

“Cũng may là Syria từng là nơi các cuộc Thập tự chinh kết thúc.” Koman mỉm cười và nói: “Chỉ cần sử dụng một số biện pháp thôi, là có thể khai thác hết tiềm năng ở đây.”

Thuộc địa của Pháp ở Trung Đông không lớn bằng các khu vực ở châu Phi hay Đông Dương, nhưng Syria có một ưu điểm: đây là thuộc địa nằm ven Biển Địa Trung Hải, từng là đích đến của các cuộc Thập tự chinh.

Do đó, ở Syria, cùng với Lebanon và Palestine, có một cộng đồng Kitô giáo khá lớn. Trong số đó, nhóm người Kitô giáo đông đảo nhất chính là người Maronite, và Thánh Maron – người sinh ra tại Pháp – được coi là người lãnh đạo tinh thần của cộng đồng này, điều này giúp Pháp có được nền tảng vững chắc để cai trị Syria.

Khi chiến tranh bùng nổ, nhóm người Maronite này trở thành nguồn lực quân sự tiềm năng.

Koman, người theo cha đến Damascus, làm sao có thể ngồi yên không làm gì trong những năm qua được? Mặc dù còn trẻ, nhưng trí thông minh của cậu không hề kém. Sau khi suy nghĩ kỹ, cậu quyết

Hội Hiệp sĩ Đền thờ cũng được thành lập bởi người Pháp; vùng xung quanh Jerusalem, bao gồm cả Syria, đều là các thuộc địa của Pháp. Vì vậy, những tín đồ Kitô giáo, kể cả phe Maronite, tự nhiên rất sẵn lòng chấp nhận quan điểm này – khi người thực dân là người Pháp và họ cũng là con cháu của người Pháp, thì điều đó có nghĩa là họ cũng thuộc về dân tộc Pháp.

Trên thế giới này, không hề tồn tại một dân tộc “bẩm sinh đã là chiến binh”. Lấy các cường quốc phương Đông làm ví dụ: Quân đội của Chí Kế Quang và quân đội trực thuộc phe Tào Thống đều gồm những người từ tỉnh Chiết Giang; để xác định liệu hai đội quân này có khác biệt về sức mạnh chiến đấu hay không, ta cần xét đến hai tiêu chí chính: nguồn gốc địa phương và liên kết với Học viện Quân sự Hoàng Phổ.

Nếu xét về địa vị, thì trong thời đại của mình, Tào Thống mạnh mẽ hơn nhiều so với Chí Kế Quang; cả hai đều là quân đội từ tỉnh Chiết Giang, vậy tại sao lại có sự khác biệt về sức mạnh chiến đấu? Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở quân đội, mà chủ yếu nằm ở người lãnh đạo.

Lấy quê hương của Koman ở kiếp trước làm ví dụ: Ông chưa bao giờ nghe nói rằng quê hương mình từ xưa đã sản sinh ra những đội quân mạnh mẽ; nhưng vào thời nhà Thanh, quân đội Sōlōn đã xuất hiện.

Ông không tin rằng những người Sōlōn bẩm sinh đã là những chiến binh đặc biệt; trong thời đại nông nghiệp, dù ở quốc gia nào, ai muốn chịu khó thì luôn có đủ khó khăn để trải qua; tất cả mọi người đều nên có khả năng chịu đựng gian khổ.

Vậy vấn đề nằm ở đâu? Có lẽ là do Gia Long đã khiến người Sōlōn tin rằng họ bẩm sinh đã là những chiến binh; thực chất, Gia Long rất giỏi trong việc thuyết phục người khác bằng những lời nói dối; ông liên tục khẳng định rằng người Sōlōn bẩm sinh đã là siêu anh hùng, và người Sōlōn cũng thực sự tin vào điều đó, sau đó họ bắt đầu tham gia các cuộc chinh phục xa xôi, tiến về phía nam, vượt qua Dãy núi Người hoang dã, và leo qua cao nguyên Tây Tạng.

Ở Syria thuộc Pháp, những tín đồ Kitô giáo, với phe Maronite làm trung tâm, đã chấp nhận quan điểm rằng họ không phải là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, mà thực sự là người Pháp; ở tầng lớp tiềm thức, với tư cách là hậu duệ của các hiệp sĩ Thập tự quân, họ coi việc trở thành chiến binh là điều đương nhiên; vì vậy, khi đến tuổi nhập ngũ, họ cho rằng nếu không giúp đỡ Pháp, thì họ sẽ phản bội tổ tiên của mình.

Nguyên lý này tương tự như phong trào “Bộ lông trắng”; chỉ là Koman đã sử dụ

1/1 0%