lore

Chương 7: Tướng quân

7,491 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Người như Koman – người có thể sánh ngang với Napoleon – sinh ra ở Pháp chính là may mắn cho chính nước Pháp. Chỉ là ông ấy còn quá trẻ; nếu không, Đế chế Thứ Ba đó chẳng qua chỉ là chuyện nhỏ đối với ông ấy mà thôi.

Vài giây sau, con dao thép Damascus đã nằm trong tay Koman. Lúc này, trong lòng ông ta không hề cảm thấy gánh nặng, cứ như thể… đây vốn dĩ chính là thứ thuộc về mình.

Trước đây, Koman không hề có thiện cảm gì với những kẻ buôn ma túy người Kurd này; lần đầu tiên gặp họ, ông ta thậm chí còn không hỏi tên họ. Nhưng lần gặp thứ hai này, vì họ đã tặng ông ta một món quà, nên thái độ của ông ta đã dịu đi và ông ta tự giác hỏi: “Chúng ta đã gặp nhau lần thứ hai rồi, mà tôi vẫn chưa biết tên bạn.”

Đây chính là ví dụ điển hình của việc “dùng người phục vụ mình chứ không để họ phục vụ người khác”. Nếu là người khác làm như vậy, Koman nghĩ thôi cũng thấy ghê tởm; nhưng khi chính mình làm điều đó, mọi thứ lại trở nên hoàn toàn hợp lý.

“Trung úy Koman, tên tôi là Bashir,” Bashir trả lời một cách kính trọng. Anh ta nghe nói rằng đơn vị quân đội mà Koman đang công tác đã sẵn sàng lên đường, và việc Koman vẫn dành thời gian để hướng dẫn – hay ít nhất là giúp đỡ họ mở đường vào cảng Beirut – thật đáng được kính trọng.

“Bashir, cái tên hay đấy.” Koman nói một cách nghiêm túc, đáp lại một cách giả tạo; lúc này, vẻ giả tạo trên khuôn mặt ông ta hiện rõ một cách rõ ràng. “Chúng ta đã xây dựng mối quan hệ này; chắc chắn trong tương lai sẽ còn nhiều cơ hội hợp tác nữa.”

Lời nói của Koman mang tính châm biếm: về “liên minh buôn ma túy” này, ít nhất vẫn còn ba mươi năm nữa mới kết thúc. Koman chắc chắn sẽ không dính líu đến điều đó. Với những yêu cầu nghiêm ngặt đối với bản thân mình, một người lính Pháp như ông, làm sao có thể liên kết với loại người như vậy? Họ chỉ kiếm được rất ít tiền và còn gây ra rất nhiều rắc rối… Làm sao ông có thể làm như vậy được?

Những nơi nghèo khó thường tìm đến những ngành nghề như thế này. Nếu việc buôn ma túy thực sự mang lại lợi nhuận, thì tại sao lại phải để người Kurd sống ở các vùng núi hẻo lánh đảm nhận công việc đó? Người Kurd có quan trọng đến mức đó sao?

Tuy nhiên, sự tồn tại của những thứ như vậy cũng có lý do của nó. Koman cũng không định can thiệp vào chúng; nhiều nhất, ông sẽ giữ thái độ trung lập, không dính líu đến chúng.

Thực ra, những thứ như vậy cũng khá phù hợp với hệ thống tư bản lãi suất cao. Bởi

“Lưỡi dao thép Damascus.” Alan thực sự rất quan tâm đến món quà này dành cho Koman; làm sao có thể sống ở Syria mà chưa từng thấy loại dao mang tính biểu tượng như vậy chứ? Anh cầm lên xem xét và nói: “Chất lượng gia công và hoa văn trên dao thực sự rất hoàn hảo; chắc chắn không phải hàng bán ở các gian hàng rong, và chiều dài của nó cũng dài hơn so với những con dao thép Damascus thông thường.”

Những con dao thép Damascus thông thường thì không lớn lắm, chỉ khoảng bằng một con dao kiếm nhỏ, và chúng chỉ là những công cụ hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày của người Ả Rập, giống như những con dao dùng để gọt xương mà các dân tộc sống ở vùng thảo nguyên thường đeo bên mình.

Con dao thép Damascus mà Bashir tặng cho Koman có chiều dài gần ba mươi centimet; nó đã vượt ra khỏi phạm vi của những công cụ hỗ trợ và có thể được coi là một vũ khí thực thụ.

Alan ngắm nhìn con dao thép Damascus một lúc lâu, sau đó trả lại cho Koman và ngợi khen: “Thật sự là một tác phẩm tuyệt vời; ba viên đá quý được gắn trên dao cũng rất có giá trị. Xứng đáng là sản phẩm xuất xứ từ nơi sản xuất chúng.”

“Nguồn gốc thực sự của nó là Ấn Độ,” Koman nói và đeo con dao vào thắt lưng mình, bình tĩnh giải thích.

Nếu không biết rằng kỹ thuật chế tạo dao thép Damascus bắt nguồn từ Ấn Độ, rằng cái rây được phát minh ở Ai Cập, và rằng hệ thống 12 chòm sao là truyền thống của Iraq, làm sao có thể hoạt động trong lĩnh vực công nghệ được chứ? Chẳng phải sẽ rất ngượng khi gọi những thuật ngữ liên quan đến công nghệ mà không biết nguồn gốc của chúng sao? Thà đi Ai Cập để sửa chữa các kim tự tháp còn hơn; dù sao thì Napoleon cũng vừa chiến đấu với quân Anh vừa tiến hành công việc đó mà.

Hiện tại, Koman chỉ đang chờ đợi đoàn tàu của mình đến nơi, sau đó mới trở về quê hương. Tất nhiên, trước khi đó, anh còn phải gặp cha mình – người đã đi trước một bước.

Đang ở Syria, do bị hạn chế bởi những tiến bộ công nghệ của thời đại đó, Koman không thể hiểu rõ tình hình chiến sự ở châu Âu lúc bấy giờ. Những thông tin anh có được chỉ qua đài phát thanh, và nội dung các buổi phát thanh đều chỉ nói về những chiến thắng liên tiếp của phe Đồng minh; hầu hết các bản tin đều đề cập đến các cuộc oanh tạc chiến lược của Anh và Mỹ nhắm vào Đức, từ đó có thể thấy mức độ kiểm soát dư luận của họ là rất lớn.

Trước năm 1944, các cuộc oanh tạc chiến lược của Anh và Mỹ đối với Đức chỉ có tác động rất hạn chế; không thể nói là chúng không có tác dụng gì cả, nhưng thực tế thì tác động đó gần như không đáng kể.

Tuy nhiên, từ giữa năm 1944 trở đi, cùng với cuộc đổ bộ Normandy, các cuộc oanh tạc chiến lược được tiến hành với quy

“Chỉ sử dụng không quân thì mãi mãi không thể đạt được chiến thắng quyết định,” Koman liếc nhìn người đồng đội của mình. Những cuộc oanh tạc chiến lược ấy chỉ hữu ích đối với những quốc gia không có khả năng tự cung tự cấp công nghiệp; ngay cả khi một quốc gia đó không có khả năng này, miễn là họ sẵn lòng hy sinh và có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các quốc gia khác, thì những cuộc oanh tạc chiến lược ấy vẫn sẽ không đạt được mục tiêu.

Nếu không, Mỹ đã sử dụng lực lượng oanh tạc mạnh mẽ ở Việt Nam, với những quả bom có sức công phá mạnh hơn cả thời Thế chiến II, khiến Việt Nam trở thành một “biển hố” sau những cuộc oanh kích, vậy tại sao lại không đạt được mục đích? Về cơ bản, chính là bởi vì không thể làm được.

Lý do Đức cuối cùng không thể tiếp tục chiến đấu rất đơn giản: Quân đội Xô viết ở mặt trận phía Đông đang ngày càng tiến gần vào các khu vực công nghiệp của Đức; những quả bom được ném xuống từ máy bay sẽ không bao giờ hiệu quả bằng những loại vũ khí được sử dụng một cách tập trung.

Hiện nay, trên đài phát thanh chỉ tập trung đưa tin về các cuộc oanh tạc chiến lược của Anh và Mỹ, trong khi hoàn toàn không đề cập đến 10 đợt tấn công “Stalin” của Liên Xô; Koman thậm chí không biết tình hình chiến sự ở mặt trận phía Đông đã đến giai đoạn nào.

Khi Martin đến căn phòng riêng của Koman, anh ta vừa thấy hai người đang phân phát những chiếc khẩu trang cho binh sĩ thuộc Sư đoàn Trẻ; những chiếc khẩu trang màu đen đó còn in hình Thánh giá Lorena, khiến Martin không khỏi thốt lên: “Đây là cái gì vậy?”

“Cái gì à? Rất nhiều binh sĩ trong đơn vị không giỏi tiếng Pháp,” Koman trả lời qua chiếc khẩu trang màu đen đó. Thực ra, lý do là vì Sư đoàn Trẻ đang trở về Pháp, không phải để chiến đấu mà là để thực hiện những nhiệm vụ khác; vì vậy, thông thường họ nên tránh tiết lộ danh tính thật của mình.

Việc sử dụng những biểu tượng trên khẩu trang để xác định thuộc về đơn vị nào là một giải pháp tạm thời; anh ta không thể đi theo ví dụ của Đức và sử dụng những biểu tượng trên tay áo được, bởi điều đó có thể bị coi là thiếu tính chính trị đúng đắn.

Về nhiệm vụ cụ thể mà Sư đoàn Trẻ đang thực hiện, hiện tại Koman cũng không thể tiết lộ; chỉ khi họ đến đất Pháp, các binh sĩ mới sẽ biết được. Hiện tại, việc biết trước là không cần thiết.

“Tướng Fontaine sẽ đến kiểm tra và phát biểu trước khi Sư đoàn Trẻ xuất phát; chúng ta có nên tiến hành nghi thức chào đón như trước đây không?” Martin vội vàng hỏi, vì anh ta vừa nhớ ra có việc quan trọng cần giải quyết.

“Đúng rồi, chỉ cần đứng yên và vỗ tay, hô ‘V

1/1 0%