lore

Chương 209: Bạo động đã được dập tắt

9,581 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ở khu vực Mỹ Latinh, việc các tư duy huyền ảo xuất hiện dưới áp lực của Hoa Kỳ cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bầu không khí Công giáo La Mã ở đây chắc chắn là mạnh mẽ nhất so với bất kỳ nơi nào khác; đồng thời, Mỹ Latinh cũng là khu vực mà tư tưởng cánh tả phương Tây phát triển mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XXI. Hai yếu tố này tồn tại song hành trong cùng một khu vực.

Khác với các quốc gia Tây Âu như Pháp, nơi các đảng phái cánh tả như Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản vẫn còn sự khác biệt rõ ràng, thì hai phe cánh tả ở Mỹ Latinh gần như giống hệt nhau.

Để hiểu được nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, chúng ta cần xem xét đến Hoa Kỳ. Sau khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu, Hoa Kỳ coi sự xuất hiện của các luồng tư tưởng cánh tả ở các quốc gia Mỹ Latinh là một mối đe dọa nghiêm trọng.

Ban đầu, Fidel Castro chỉ đơn giản là yêu cầu độc lập và tự chủ; ông hoàn toàn không thân thiện với Liên Xô, nhưng lại bị Hoa Kỳ ép buộc trở thành một đồng minh thân cận của Liên Xô.

Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Cuba đã trở thành “đồng minh số một” của Liên Xô, gần như làm theo mọi chỉ thị của Liên Xô; binh sĩ Cuba đã xuất hiện ở rất nhiều quốc gia châu Á, Phi và Mỹ Latinh.

Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự dẫn đến sự thay đổi này chỉ đơn giản là vì Castro đã tịch thu các đồn điền của Hoa Kỳ và từ chối trở thành nô lệ của các công ty Mỹ; Hoa Kỳ thậm chí không sẵn lòng chấp nhận những tổn thất lớn hàng tỷ đô la do điều này gây ra.

Cuối cùng, sau khi Cuba trở thành “đồng minh số một” của Liên Xô, Hoa Kỳ buộc phải trả giá đắt để giải quyết những rắc rối mà Cuba gây ra.

Tiếp theo là Brazil – quốc gia lớn nhất ở Mỹ Latinh. Khi Luiz Inácio Lula da Silva, lãnh đạo Đảng Công nhân Brazil, trở thành tổng thống, mặc dù ông thuộc phe Đảng Xã hội, nhưng ông đã tiến hành các chính sách quốc hữu hóa; việc này cũng rất phổ biến ở các quốc gia Tây Âu. Tuy nhiên, Hoa Kỳ coi đó là một mối đe dọa lớn và đã liên kết với quân đội Brazil để loại bỏ ông khỏi chức vụ.

Cuối cùng là Tổng thống Chile, Salvador Allende. Vào những năm 70, dưới áp lực của Hoa Kỳ, các lực lượng cánh tả ở Mỹ Latinh gần như không còn ranh giới rõ ràng nữa; Allende cũng là một người thuộc Đảng Xã hội.

Trong thời kỳ này, các đảng Xã hội ở Mỹ Latinh đã bắt đầu có những điểm khác biệt rõ ràng so với các đảng Xã hội ở Tây Âu, mặc dù về danh nghĩa, chúng vẫn thuộc về Quốc tế Thứ hai.

Tuy nhiên, do bị Hoa Kỳ và những người ủng hộ Chủ n

Ngay cả các đảng xã hội chủ nghĩa ở châu Âu thuộc Phong trào Quốc tế Thứ hai cũng nhận ra rằng, mặc dù cùng mang tên đảng xã hội chủ nghĩa, nhưng phe cánh tả ở Mỹ Latinh lại có quan điểm cấp tiến hơn nhiều so với họ.

Tất cả những điều này đều là hệ quả của việc Hoa Kỳ liên kết với các chính phủ quân sự ở Mỹ Latinh và áp dụng chính sách áp bức.

Vào những năm 80, điều gì đó thực sự kỳ lạ đã xảy ra: trong cuộc nội chiến Nicaragua, phe cách mạng do Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandino lãnh đạo đã nhận được sự hỗ trợ từ Liên Xô, Cuba và các đảng xã hội chủ nghĩa châu Âu do Đảng Xã hội Chủ nghĩa Đức dẫn đầu. Lần đầu tiên, các đảng xã hội chủ nghĩa châu Âu đứng cùng một phe với Moscow trong một cuộc xung đột lớn như vậy.

Mặc dù cuộc nội chiến Nicaragua cuối cùng đã kết thúc do sự suy yếu của Liên Xô, nhưng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandino vẫn không bị giải tán, và đã chứng minh được giá trị của sự đoàn kết của mình.

Khi khủng hoảng kinh tế ở Mỹ Latinh bùng nổ, các chính phủ quân sự ở các nước này buộc phải từ chức.

Các đảng phái cánh tả ở Mỹ Latinh, sau khi thoát khỏi áp bức, hầu như không còn nhấn mạnh rằng quan điểm của họ thuộc về đảng xã hội chủ nghĩa hay Moscow nữa; họ cũng không còn phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản nữa.

Việc Hoa Kỳ áp đặt sức ép mạnh mẽ lên phe cánh tả Mỹ Latinh trong nhiều thập kỷ đã khiến các đảng phái cánh tả ở châu Âu, vốn có những quan điểm khác biệt lớn, trở nên giống nhau hơn; điểm chung duy nhất giữa chúng chỉ là lập trường chống Mỹ.

Những đảng phái cánh tả này ở Mỹ Latinh có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với thời kỳ Chiến tranh Lạnh; Hoa Kỳ gần như không thể kiểm soát hết tất cả chúng. Mỗi khi một đảng phái bị lật đổ ở một quốc gia nào đó, thì lại có một đảng phái khác lên nắm quyền ở quốc gia khác.

Ngay cả Colombia, một quốc gia luôn ủng hộ Mỹ kể từ sau Thế chiến II, cũng đã có một tổng thống cánh tả đầu tiên.

Trong tình hình như vậy ở Mỹ Latinh, thậm chí cả các cường quốc phương Đông cũng đã tham gia vào Tổ chức Cộng đồng An ninh Liên Mỹ… Vậy thì còn điều gì là không thể xảy ra nữa chứ?

Ngay cả giáo hội Công giáo ở Mỹ Latinh cũng có “thuyết giải phóng” của mình; ngay cả sự khác biệt giữa Công giáo và chủ nghĩa cộng sản cũng có thể được hòa nhập với nhau, nhờ vào những kinh nghiệm chung trong các cuộc nội chiến ở

Một đội quân cảnh sát với 800 người có thể ngăn chặn được những cuộc thù địch dân tộc không? Đây là một vùng đất rộng lớn 600.000 cây số vuông, bằng kích thước của Ukraine; với chưa đầy 1.000 cảnh sát, làm sao họ có thể kiểm soát được tình hình?

Hãy chuẩn bị sẵn những bức điện thoại để trì hoãn việc gánh vác trách nhiệm theo thời gian đã định, và yêu cầu nhân viên phiên dịch gửi chúng theo đúng lịch trình. Ngay lập tức sau đó, Koman mời các chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau – chủ yếu là nông nghiệp và khai thác mỏ – do Martin mang theo, để cùng nhau xây dựng kế hoạch phát triển sau khi cuộc nổi dậy kết thúc.

Gì cơ? Là một thành viên của đội quân viễn chinh mà lại không tham gia chiến đấu à?

Koman thuộc đội quân cảnh sát; trong tình huống nguy cấp như này, ông ta không thể trốn tránh trách nhiệm được. Hiện tại, phe chúng ta đang giữ ưu thế tuyệt đối; vậy tại sao ông ta lại không ra trận?

Cảng Tuamassina chỉ là mục tiêu mà đội quân viễn chinh Pháp muốn tấn công vào lúc nào đó thôi; vấn đề không phải là liệu họ có thể chiếm được nó hay không.

Những vùng đồng bằng ven biển từng thịnh vượng, nhưng giờ đây đã trở nên hoang tàn, đã chuyển sang sở hữu của những người mới. Những gì vẫn còn nằm trong tay những kẻ nổi dậy, chỉ còn lại cảng Tuamassina – nơi đã bị bom đạn tàn phá đến mức gần như biến thành đống đổ nát.

Những kẻ nổi dậy thiếu vắng vũ khí, thậm chí cả đạn dược; nhiều người chỉ sử dụng những loại vũ khí lạnh bằng kim loại mà thôi.

Họ đã xây dựng tuyến phòng thủ cuối cùng bao quanh cảng, sử dụng những đống đổ nát sau trận oanh kích, những con sông bị tàu đắm chặn lại, cùng những cái hào được đào gấp rút để chống trả.

Cảng Tuamassina – viên ngọc quý của Đế chế Pháp trên bờ biển phía đông – giờ đây đã trở thành một hòn đảo bị bao vây từ mọi phía.

Nhưng lúc này, họ không còn đối mặt với chỉ một cuộc tấn công duy nhất nữa. Cơ quan chỉ huy quân đội Pháp đã thể hiện sự hiệu quả lạnh lùng và không khoan nhượng; trong trận chiến cuối cùng này, Tổng chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp đã điều động bốn nhóm quân tiến hành tấn công. Trước khi cuộc tấn công chính thức bắt đầu, cảng Tuamassina – nơi đã trở thành đống đổ nát – một lần nữa phải chịu đựng những đợt tấn công liên hợp từ không quân và hải quân.

Khi những cuộc oanh kích bằng máy bay ném bom và hạm đội kết thúc, các đơn vị pháo binh của quân đội Pháp đóng trên những cao điểm phía sau bắt đầu chuẩn bị cho đợt tấn công cuối cùng. Những quả đạn pháo như mưa đ

Đạn bay vù vù từ mọi phía.

Họ buộc phải tiến hành truy quét từng ngôi nhà một, sử dụng lựu đạn để mở đường và dùng lưỡi lê cùng nòng súng để đánh bại những cuộc kháng cự cuối cùng.

Trận chiến tại bến cảng trở nên công khai hơn; binh sĩ Pháp bước qua đống tro tàn cháy và những khúc kim loại cong vẹo. Ưu thế tuyệt đối về quân số, hỏa lực và tinh thần chiến đấu của quân Pháp đã dập tắt hoàn toàn sức sống còn lại của những kẻ kháng cự.

Bến cảng lớn nhất của Madagascar giờ đây đầy rẫy xác chết và vũ khí bị bỏ rơi. Những người sống sót sau cuộc nổi dậy bắt đầu xuất hiện từ các góc khuất; ánh mắt họ đầy mệt mỏi, hận thù và tuyệt vọng.

Binh sĩ Pháp nhanh chóng kiểm soát các vị trí then chốt, thiết lập vòng phòng thủ và bắt đầu truy lùng những kẻ còn sót lại.

Thông tin về việc chiếm giữ cảng Tua Mahasina và những vụ thảm sát dân tộc được gửi về Bộ Quốc phòng Pháp gần như đồng thời. So với việc nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy ở Madagascar, những vụ thảm sát này hoàn toàn không nằm trong phạm vi quan tâm của Bộ Quốc phòng.

Bộ Quốc phòng chỉ biết rằng cuộc nổi dậy nghiêm trọng nhất trong lịch sử Madagascar, với sự tham gia của hàng triệu người, đã được dập tắt nhanh chóng trong vòng chưa đầy ba tháng kể từ khi quân đội Pháp đặt chân đến đây. So với kết quả đó, những vụ thảm sát dân tộc có lẽ chỉ là những xung đột nhỏ bé mà thôi…

Về mặt quan điểm quốc tế, cũng không cần phải lo lắng; chẳng ai quan tâm đến tình hình chiến sự ở Madagascar cả. Điều này liên quan đến “người bạn thân” của Pháp – Đế quốc Anh. Mặc dù Ấn Độ thuộc Anh vẫn còn tồn tại, nhưng việc chia cắt Ấn Độ và Pakistan đã được công bố bởi Mountbatten vào tháng 4, đúng vào thời điểm cuộc nổi dậy ở Madagascar diễn ra.

Sau khi kế hoạch chia cắt được công bố, ngoài việc Đảng Quốc đại và Liên minh Hồi giáo chuẩn bị thành lập Ấn Độ và Pakistan, người theo Ấn Độ Giáo và Hồi giáo cũng bắt đầu cuộc di cư lớn. Hai nhóm người này liên tục đối mặt với những cuộc tấn công từ các phe đối lập tôn giáo trên đường di chuyển, và các hành động trục xuất lẫn nhau không hề ngừng lại.

Là “viên ngọc quý” của Đế quốc Anh, Ấn Độ thuộc Anh chắc chắn được người Mỹ coi trọng hơn nhiều so với một hòn đảo ở đông nam Châu Phi.

“Viên ngọc quý” này cũng không làm người Mỹ thất vọng; cuộc xung đột tôn giáo đã khiến 500.000 người thiệt mạng trong quá trình di cư – điều này chẳng hề kém phần đáng quan tâm so với cuộc nổi dậy ở Madagascar sao

1/1 0%