lore

Chương 103: Người Anh kiêu ngạo

9,932 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nghe những lời của Tướng Könnich như vậy, ông ấy thừa biết rằng tôi không hề đe dọa gì đối với giới quân sự, nhưng những lời đó đủ để làm mất danh dự của một người lính.

Koman cố gắng nở một nụ cười, ông cảm thấy mình phải giải thích rõ ràng rằng mâu thuẫn giữa Sư đoàn Trẻ và quân đội Pháp thực chất chỉ là những mâu thuẫn nội bộ trong dân tộc, và cần phải sửa chữa những hiểu lầm của Tướng Könnich.

Nhưng cuối cùng, Koman vẫn chọn cách nói rằng “không có thời gian nào yên bình cả; đó chỉ là hình ảnh hùng vĩ của những người lính Pháp đang gánh vác trách nhiệm cho đất nước mà thôi.”

“Hành động của đơn vị chúng tôi, dù không được ủng hộ, ít ra cũng xứng đáng được thông cảm. Tất cả những điều này đều là vì đất nước, vì những thiếu sót đã xuất hiện trong suốt bốn năm qua, và chúng ta buộc phải làm những việc cần thiết. Còn rất nhiều việc khác đang chờ đợi chúng ta thực hiện.”

Thực ra, Tướng Könnich hoàn toàn có thể hiểu được. Ông không ngờ rằng chỉ vì một câu đùa của mình mà Koman lại tỏ ra suy sụp tinh thần đến thế. Xét đến tương lai của các thế hệ quân nhân Pháp kế tiếp, Tướng Könnich quyết định an ủi Koman.

Cách an ủi của ông rất đơn giản: ông chỉ cần chế giễu sự chậm trễ của người Anh, và những trường hợp người tị nạn từ khu vực do Đức và Anh chiếm đóng đổ xô về Berlin… “Chính phủ Nam Tư đang ‘phun nước bọt’ vào người Anh.”

Koman không hề biết gì về chính phủ Nam Tư; ông chỉ quen với cái tên khác – Tập đoàn An ninh Titon Ranković-Kadriga Ljast.

Lúc này, Berlin sau chiến tranh, và sau một tháng bị quân đội Xô Viết chiếm đóng, mọi hành động trả đũa của họ đều đã gần như kết thúc.

Còn những nạn nhân ẩn náu trong đống đổ nát ấy… ai sẽ quan tâm đến họ chứ? Đức đã làm điều này, Xô Viết cũng sẽ làm điều tương tự; đó là quy luật của sự trả đũa.

Koman chắc chắn không bao giờ làm những việc ngu ngốc như muốn bênh vực những trường hợp riêng lẻ, không có ảnh hưởng rộng rãi, hay những sự việc đơn lẻ. Công bằng nằm trong lòng mỗi người, nhưng Koman cũng biết rằng con người vốn dĩ đã có sự thiên vị.

Luôn áp dụng triết lý “làm điều tốt mà không cần quan tâm đến kết quả”, Koman đã dành tất cả lòng tốt của mình cho Goebbels và Himmler. Còn những việc khác… ai cũng biết rằng người Đức luôn tự lực cánh sinh, không bao giờ chấp nhận sự giúp đỡ từ người khác; nếu Koman can thiệp quá nhiều, liệu đó không phải là sự coi thường đối với phẩm giá cao quý của người Đức?

Quân đội Pháp ki

Tuy nhiên, điều này không phải là bất biến; mức độ đóng góp của các cường quốc Đông Á trong chiến tranh phụ thuộc vào sức mạnh quốc gia của họ sau này.

Vào thời kỳ đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh, những quốc gia chính đã đánh bại Đức không phải là ba cường quốc lớn; Anh, vốn đã tụt hậu từ trước, có thể được coi là một trong những nước chiến thắng chính ư? Những nước chiến thắng chính chỉ có Mỹ và Liên Xô mà thôi.

Sau Chiến tranh Lạnh, khi nói đến công lao trong việc đánh bại Đức, rõ ràng Nga đã không còn sức mạnh đủ để được tính đến; như ông Dung Vương đã nói, chính Mỹ là người đã cứu giúp châu Âu, bao gồm cả Nga.

Vì vậy, con cháu thực sự có thể quyết định số phận của tổ tiên mình; Pháp nên hiểu điều này. Kể từ khi quan điểm lịch sử Gaul chiếm ưu thế so với quan điểm lịch sử Germanic trong giới sử học Pháp, điều này đã được chứng minh rõ ràng.

Khi mới đến Berlin, Coman ngay lập tức được sắp xếp tham dự một buổi giao lưu giữa các quân nhân. Những người tham gia buổi giao lưu chủ yếu là các sĩ quan của các nước đồng minh; chiến tranh vừa mới kết thúc hơn một tháng, và quân đội của Anh, Pháp, Mỹ cũng vừa mới vào đóng quân tại Berlin. Lúc bấy giờ, các lực lượng đồng minh vẫn rất đoàn kết và rất mong muốn thể hiện sự đoàn kết đó.

Trong thời kỳ sau chiến tranh khi nguồn lực còn rất hạn chế, quân đội Mỹ chắc chắn là nhóm có điều kiện tốt nhất; thức ăn cho buổi giao lưu tự nhiên do người Mỹ chuẩn bị. Các nước khác cũng được mời tham gia, và các sĩ quan đến từ nhiều đơn vị khác nhau, nhưng chủ yếu là sĩ quan thuộc quân đội đất liền và không quân.

Coman không biết tiếng Nga lắm, vì vậy anh chỉ có thể ngồi cùng các sĩ quan Anh và Mỹ. Các sĩ quan Liên Xô cũng tự tạo thành một nhóm riêng và sống hòa bình với mọi người. Bên ngoài hội trường, lá cờ Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô đều đang bay phấp phới trong gió; không khí trong hội trường tràn ngập mùi nước hoa, thuốc lá và rượu.

Coman buộc phải thừa nhận rằng mình thực sự có nhu cầu về vật chất; vấn đề là nhiều thứ mà bên ngoài không có, nên mặc dù không thích bầu không khí như vậy, anh vẫn quyết định tham gia.

Và không lâu sau đó, anh đã sử dụng tiếng Anh mà mình học được ở Damascus để kết bạn với các sĩ quan Anh và Mỹ.

“Nghe nói hôm qua các bạn lại phát hiện ra một nhà máy bí mật nữa ở khu Tempelhof phải không?” Williams đưa cho anh một ly champagne, giọng nói thì thầm. Charles Williams, thiếu tá Không quân Hoàng gia Anh, vừa lấy một ly champagne từ két champagne rồi đến bên Coman để đưa cho anh.

Coman nhấp một ngụm rượu; bọt champagne nổ tung tr

Koman khá hiểu rõ quan điểm của Anh. Dựa trên kinh nghiệm oanh tạc chiến lược vào Đức trong Thế chiến thứ hai, sau chiến tranh, Anh nhận ra rằng họ không thể cạnh tranh được với Liên Xô về mặt xung đột trên bộ đất liền.

Lực lượng Hải quân Hoàng gia – công cụ cân bằng quyền lực ở ngoài biển – gần như không có tác dụng đối với lãnh thổ rộng lớn đến mức đáng kinh ngạc của Liên Xô. Vì vậy, Anh đã đặt trọn hy vọng vào Không quân Hoàng gia.

Quân đội Anh mong muốn chuyển nguồn lực của Không quân sang hỗ trợ các lực lượng trên bộ càng nhiều càng tốt. Cuối cùng, họ đã thành lập lực lượng hỗ trợ mặt đất cho Không quân – và cả Không quân Hoàng gia nữa – hai lực lượng này vẫn gắn bó mật thiết với các khái niệm chiến thuật không quân chiến lược, bao gồm việc oanh tạc các căn cứ của kẻ thù và sử dụng máy bay tiêm kích hiệu suất cao để phòng thủ bầu trời Anh.

Anh đã tách Không quân Hoàng gia ra khỏi Quân đội đất liền, biến nó thành một lực lượng quân sự độc lập, từ đó khẳng định vị trí trung tâm của nó trong hệ thống an ninh quốc gia. Sự cải cách này đánh dấu sự chuyển đổi của Không quân từ vai trò hỗ trợ chiến thuật sang vai trò dẫn đầu chiến lược.

Về mặt tấn công, Anh liên tục sản xuất các loại máy bay oanh tạc ba động cơ, nhằm đe dọa Liên Xô và ngăn chặn họ hành động liều lĩnh.

Tất nhiên, chiến lược quân sự này đã thất bại. Khi công nghệ tên lửa ngày càng trở nên tin cậy hơn, các phương thức như cuộc Chiến tranh Trên không Anh-Germany – nơi Đức phải xâm nhập không phận Anh thông qua các cuộc không chiến – đã trở nên lỗi thời.

Các loại tên lửa của Liên Xô đã thay thế hoàn toàn phương thức oanh tạc chiến lược, khiến những nỗ lực của Anh nhằm duy trì thế cân bằng trở nên vô ích.

Trong khi đó, Mỹ lại hoàn toàn khác. Mặc dù họ cũng gặp phải những vấn đề tương tự như Anh, nhưng sức mạnh quốc gia của Mỹ đã giúp họ tránh khỏi những rủi ro do chiến lược oanh tạc gây ra.

Mỹ có đủ nguồn lực để thực hiện các điều chỉnh cần thiết; trong khi tiếp tục sản xuất máy bay oanh tạc chiến lược, họ cũng có thể duy trì việc sản xuất tên lửa một cách ổn định.

Còn Anh thì sao? So với thời kỳ “Đế quốc Mặt trời không bao giờ lặn”, sau khi thất bại trong việc đặt trọn hy vọng vào Không quân, họ đã không còn đủ nguồn lực để tiếp tục nỗ lực. Về cơ bản, đây là vấn đề liên quan đến sức mạnh quốc gia.

Dù sao thì họ cũng là đồng minh, ít nhất là trước cuộc chiến tranh ở eo biển Suez, Anh và Pháp vẫn cần phải duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nhau. Koman nói với giọng điệu truyền đạt: “Hiện nay, thời đại của má

Koman có quan điểm khác về vấn đề này. Người Anh đang mơ mộng quá; bảo Pháp đối đầu với Liên Xô – một đối thủ mạnh hơn nhiều so với Đức – chỉ vì các bạn người Anh tự cho mình thông minh sao? Các bạn biết rõ việc sử dụng Pháp làm “tấm khiên sống” chứ?

Trong lòng Koman, ông cười lạnh. Nếu xét đến việc phân chia các khu vực chiếm đóng của bốn quốc gia, thì Pháp chắc chắn không phải là lựa chọn hàng đầu. Vương quốc Anh mới chính là tuyến đầu tiên đối đầu với Liên Xô, và thực tế cũng đúng như vậy. Để giành được phần lớn lãnh thổ thuộc khu vực chiếm đóng của mình dọc theo sông Rhine, Anh buộc phải đặt mình ở vị trí đối mặt trực tiếp với cuộc tấn công của Liên Xô từ phía tây.

Cuối cùng, dưới áp lực liên tục từ Mỹ, quân đội Anh với lực lượng không quân làm trung tâm đã buộc phải đối mặt trực tiếp với các lực lượng của Liên Xô ở phía tây. Vì cả không quân lẫn đội bộ đều rất quan trọng, nên Hải quân Hoàng gia Anh buộc phải hy sinh phần nào. Một đảo quốc như Anh đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh quân sự của NATO tại Đức.

Biết rằng việc kéo Pháp vào cuộc chiến là điều không thể xảy ra, Koman không quan tâm đến những lời chỉ trích đó, mà tận dụng cơ hội để tìm hiểu thêm về tình hình của Không quân Hoàng gia Anh, coi đó như một cơ hội để trao đổi về việc xây dựng lực lượng không quân.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều đã có được thông tin về máy bay chiến đấu phản lực từ Đức, nhưng Anh vẫn là quốc gia sở hữu nhiều thông tin nhất. Máy bay chiến đấu phản lực của Anh được đưa vào sử dụng không muộn hơn Đức, và Anh thực sự là một cường quốc hàng không. Nếu không vì sự chênh lệch về quy mô so với Mỹ, thì không ai có thể chắc chắn được Anh có phải là cường quốc hàng không số một hay không.

Vì vậy, Thiếu tá Williams có lý do để tự hào khi đề cập đến một số khái niệm đang được thảo luận, như cách thiết kế máy bay chiến đấu.

Thái độ khoan dung đó khiến Koman cảm thấy khinh thường. Ông nói chậm rãi: “Cách đơn giản và hiệu quả nhất chính là sử dụng thiết kế đầu mút hút không khí, điều này có thể giải quyết hầu hết các vấn đề hiện tại.”

Trong thế hệ máy bay chiến đấu đầu tiên, thiết kế này chiếm ưu thế vì nó đơn giản trong thiết kế, gây ít ma sát gió hơn, và lỗ hút không khí nằm ở vị trí cao so với mặt đất. Nhờ vào trọng lượng nhẹ và khả năng hoạt động ở tốc độ gấp đôi âm thanh, loại máy bay này đã trở thành ứng cử viên sáng giá vào thời điểm đó.

Với công nghệ hiện tại, về khả năng chịu nhiệt và sức mạnh động cơ, thiết kế đầu mút hút không khí vẫn là lựa chọn phù hợp nhất trong đi

1/1 0%